NCKH.TRUONG Tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến việc tiêm chủng vắc xin HPV ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố Huế năm 2025.
PDF Download: 2 View: 19

Tóm tắt

Tính cấp thiết của đề tài

Virus u nhú ở người (Human Papilloma virus – HPV) được chứng minh là nguyên nhân gây nên Uung thư cổ tử cung (UTCTC) với nhóm nguy cơ cao và mắc thời gian dài. HPV được chỉ ra là có liên quan đến 99,7% trường hợp ung thư tế bào vảy cổ tử cung trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, virus HPV còn đây nên sùi mào gà, tuy khả năng dẫn đến tử vong là thấp nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người mắc bệnh. Theo một nghiên cứu trước đó được tiến hành trên 120 bệnh nhân nam ≥ 18 tuổi bị sùi mào gà tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy bệnh này làm giảm chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân nam.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chiến lược hiệu quả để ngăn ngừa UTCTC chính là tiêm vắc xin phòng ngừa HPV và sàng lọc phát hiện sớm, điều trị các tổn thương tiền ung thư. Chiến lược toàn cầu của WHO xác định loại trừ là giảm số ca mắc mới hàng năm xuống còn 4 ca hoặc ít hơn trên 100.000 phụ nữ và đặt ra ba mục tiêu cần đạt được vào năm 2030: (1) 90% bé gái được tiêm vắc xin ngừa HPV trước 15 tuổi; (2) 70% phụ nữ được sàng lọc bằng xét nghiệm chất lượng cao ở độ tuổi 35 và 45; (3) 90% phụ nữ mắc UTCTC được điều trị. Việc phòng ngừa vi rút HPV có thể thực hiện sớm bằng cách tiêm vắc xin. Vắc xin HPV là loại vắc xin tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch chống lại sự xâm nhập và gây bệnh, giúp ngăn ngừa nhiễm và bị các tổn thương tiền ung thư hay loạn sản gây ra bởi type HPV 6, 11, 16 và 18. Ngoài ra, vắc xin này có thể làm giảm ung thư hậu môn và bộ phận sinh dục (ở cả nam và nữ).

Ở Việt Nam, tỷ lệ tiêm vắc-xin HPV và tỷ lệ khám sàng lọc ung thư cổ tử cung còn thấp. Nghiên cứu của Bộ Y tế và UNFPA vào năm 2021 cho thấy rằng chỉ 12% phụ nữ và trẻ em gái trong độ tuổi 15-29 được tiêm vắc-xin HPV và chỉ có 28% phụ nữ trong độ tuổi 30-49 được khám sàng lọc. Trong khi đó tại Mỹ, tỷ lệ trẻ thanh thiếu niên cùng độ tuổi được tiêm chủng vắc xin là 42%. Đặc biệt trong nhóm tuổi 9-15 tuổi nếu các em được tiêm chủng HPV thì từ 2 mũi đã có hiệu lực bảo vệ cao, trong khi đó nhóm tuổi >15 tuổi cần đủ 3 mũi, từ đó sẽ tiết kiệm chi phí cho gia đình. Qua đó cho thấy việc nâng cao thực trạng về việc tiêm phòng HPV là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá vấn đề trên, do đó chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này với mục tiêu: Xác định tỷ lệ tiêm chủng vắc xin HPV ở học sinh trung học phổ thông và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình hình tiêm chủng vắc xin HPV ở đối tượng nghiên cứu tại thành phố Huế năm 2025.

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Trên thế giới, tỷ lệ tiêm chủng vắc xin HPV là một trong những chủ đề được các nhà nghiên cứu khoa học sức khoẻ quan tâm. Theo thống kê của WHO, có 143 quốc gia thành viên đã đưa vắc-xin HPV vào lịch và dịch vụ tiêm chủng quốc gia vào cuối năm 2023, bao gồm 13 loại mới được đưa vào sử dụng. Năm 2023, 37 quốc gia - đại diện cho hơn 45% trẻ em gái từ 9 đến 14 tuổi được tiêm chủng trong năm - đã sử dụng lịch trình 1 liều. Tỷ lệ tiêm vắc-xin HPV liều đầu tiên cho trẻ em gái trên toàn cầu tăng từ 20% vào năm 2022 lên 27% vào năm 2023. Nghiên cứu của Chen (2024) tại Trung Quốc chỉ ra rằng: tỷ lệ tiêm vắc-xin HPV thấp ở nhóm phụ nữ dưới 20 tuổi. Trong nhóm 9–14 tuổi, tỷ lệ tiêm mũi đầu tiên là 4,00% và mũi thứ ba là 0,31%. Trong nhóm 15–19 tuổi, tỷ lệ tiêm mũi đầu tiên là 4,66% và mũi thứ ba là 2,21%. Ngược lại tại Mỹ, Năm 2022, có đến 38,6% trẻ em từ 9 đến 17 tuổi đã được tiêm một hoặc nhiều liều vắc-xin phòng ngừa vi-rút papilloma ở người (HPV).

Hiện tại, Vắc xin HPV ở Việt Nam vẫn là vắc xin tự chi trả. Nghiên cứu của Bộ Y tế và UNFPA vào năm 2021 cho thấy rằng chỉ 12% phụ nữ và trẻ em gái trong độ tuổi 15-29 được tiêm vắc-xin HPV. Nghiên cứu tại về tỷ lệ tiêm chủng vắc xin HPV ở sinh viên đại học tại Cần Thơ của tác giả Dương Mỹ Linh và cs (2023) chỉ ra rằng tỷ lệ tiêm ngừa vaccin HPV ở sinh viên nữ không cao, chỉ chiếm 35,1% và tập trung nhiều vào những năm học cuối. Một nghiên cứu khác tại Hậu Giang (2023) chỉ ra rằng: Tỷ lệ tiêm vắc xin HPV ở học sinh Trung học phổ thông rất thấp chỉ 5,3%. Các yếu tố giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp của cha học sinh, từng nghe, tìm kiếm thông tin về vắc xin có mối liên quan thuận chiều với thực hành đúng. Hiện nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu được thực hiện trên nhóm đối tượng này.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Xác định tỷ lệ tiêm chủng vắc xin HPV ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố Huế năm 2025

      2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình hình tiêm chủng vắc xin HPV ở đối tượng nghiên cứu

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Học sinh trung học phổ thông tại thành phố Huế

 Địa điểm, phạm vi nghiên cứu: Một số trường học tại thành phố Huế

Thiết kế nghiên cứu: Định lượng với phương pháp mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

Tính theo công thức: n =Z2(1-α/2)  (1)

Trong đó:             

 n: Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu.

 Z2(1-α/2) = 1,96 (với độ tin cậy 95%, α = 0,05)

 p: Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông có thực hành tiêm chủng vắc xin HPV, lấy 0,075 (dựa theo một nghiên cứu trước đó)

 d: là xác xuất sai lệch của mẫu nghiên cứu so với quần thể (d=0,03)

 Thay vào (1) tính được n= 296

Với phương pháp chọn mẫu theo nhiều giai đoạn nên chúng tôi chọn hệ số thiết kế DE=2.

Cộng với 20% đề phòng có thể do mất mẫu, từ chối tham gia nghiên cứu hoặc do phiếu không đạt ta có cỡ mẫu cuối cùng là 712 học sinh.

PDF Download: 2 View: 19