Tóm tắt
1.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện để tìm hiểu tác động của STD đối với khả năng sinh sản của nam giới. Có một số cơ chế giải thích ảnh hưởng của STD đối với vô sinh nam, trong đó, cơ chế nổi bật là tình trạng nhiễm trùng mạn tính dẫn đến việc sản xuất quá mức các gốc oxy hóa khử (ROS) gây ra stress oxy hóa tinh hoàn (OS). Năm 2012, nghiên cứu của Nguyễn Q. H. và cộng sự trên 2132 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ ở huyện Ba Vì cho thấy người chồng có tiền sử mắc bệnh lậu có nguy cơ mắc vô sinh cao gấp 2,04 lần so với người không có tiền sử mắc bệnh lậu. Bệnh quai bị có biến chứng viêm tinh hoàn cũng có nguy cơ vô sinh gấp 2,1 lần và có ý nghĩa thống kê [13]. G Bezold, JA Politch và cộng sự nghiên cứu ảnh hưởng của nhiễm khuẩn đường sinh dục không triệu chứng lên chất lượng tinh trùng và nhận thấy: có 45/241 mẫu dương tính với tác nhân gây nhiễm trùng đường sinh dục, trong đó Cytomegalo virus 8,7%, Human papiloma virus 4,5%, Herpes simplex virus 3,7%, Epstein- bar virus 0,4%, Hepatitis B virus 0% và Chlamydia Trachomatis 2,5%. Sự hiện diện của ADN mầm bệnh trong tinh dịch liên quan đến giảm nồng độ tinh trùng, giảm số lượng tinh trùng di động, giảm tổng số lượng tinh trùng và nồng độ α-glucosidase trung tính. Và tình trạng tăng bạch cầu trong tinh dịch liên quan đến việc giảm tổng số lượng tinh trùng, giảm phần trăm hình dạng tinh trùng bình thường và giảm nồng độ Fructose [14].
Các tác nhân gây bệnh lây qua đường tình dục có thể làm suy giảm các chức năng khác nhau, kể cả chức năng sinh sản và mang thai của phụ nữ. Nhiễm trùng có thể đi từ âm đạo, qua cổ tử cung, đến đường sinh dục trên là nội mạc tử cung và cuối cùng đến vòi tử cung gây nên tình trạng viêm vùng chậu cấp tính. Khoảng 15% phụ nữ mắc bệnh viêm vùng chậu cấp tính diễn tiến đến tình trạng vô sinh do yếu tố ống dẫn trứng và số đợt mắc viêm vùng chậu cấp tính tỷ lệ thuận với nguy cơ vô sinh [15]. Và viêm vùng chậu là nguyên nhân gây vô sinh phổ biến nhất, chiếm 30% các vấn đề về sinh sản ở nữ [16]. Các tác nhân gây bệnh lây qua đường tình dục không chỉ ảnh hưởng đến độ bền của ống dẫn trứng mà còn ảnh hưởng đến quá trình mang thai và sinh con bao gồm thai ngoài tử cung, sẩy thai tái phát và sinh non. Equils và cộng sự đã chứng minh rằng protein cHSP57/60 của Chlamydia Trachomatis gây ra apoptosis nguyên bào nuôi bằng cách kích thích thụ thể giống Toll 4, thụ thể này chịu trách nhiệm về phản ứng miễn dịch ở nhau thai [17]. Nhiễm C. Trachomatis và N. gonorrhoeae có liên quan đến các kết cục bất lợi của thai kỳ bao gồm viêm màng ối, viêm nhau thai, ối vỡ sớm và sinh non [18]. Trong tổng quan của Lis và cộng sự, nhiễm Mycoplasma sinh dục làm tăng nguy cơ sẩy thai tự nhiên và sinh non trong một số nghiên cứu, tuy nhiên bằng chứng không thống nhất và cần nghiên cứu thêm để củng cố [19]. Ở Việt Nam, Lê M. T. và công sự ghi nhận viêm nhiễm sinh dục thấp chiếm tỷ lệ cao trong các trường hợp dọa sinh non khi nghiên cứu 36 trường hợp dọa sinh non vào điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế [20].
Từ những cơ sở lý luận khoa học trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của tình trạng nhiễm các tác nhân lây truyền qua đường tình dục đến hiệu quả điều trị hỗ trợ sinh sản của bệnh nhân vô sinh” với hai mục tiêu chính như sau:
-
Nghiên cứu ảnh hưởng của tình trạng nhiễm các tác nhân lây truyền qua đường tình dục và một số yếu tố liên quan với khả năng sinh sản và chức năng tình dục của các cặp vợ chồng vô sinh.
-
Phân tích ảnh hưởng của tình trạng nhiễm các tác nhân lây truyền qua đường tình dục và một số yếu tố liên quan với kết quả điều trị hỗ trợ sinh sản của bệnh nhân vô sinh.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Đối tượng ngiên cứu:
- Các cặp vợ chồng vô sinh đến khám và điều trị tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và vô sinh, Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế.
- Trong thời gian từ tháng 9/2025 đến 9/2026.
- Nhóm bệnh: Bệnh nhân được chẩn đoán dương tính với bất kỳ tác nhân lây truyền qua đường tình dục - STDs nào, bao gồm: Chlamydia trachomatis, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma hominis, Mycoplasma genitalium, Ureaplasma urealyticum, Ureaplasma parvum, Candida albicans, Gardnerella vaginalis, Trichomonas vaginalis, HSV1, HSV2, Treponema pallidum và Haemophilus ducreyi.
- Nhóm chứng: Các trường hợp không phát hiện dương tính với bất kỳ tác nhân STDs nào.
- Có đủ thông tin bao gồm cơ bản: thời gian vô sinh, loại vô sinh, nguyên nhân vô sinh, xét nghiệm cơ bản hai vợ chồng, xét nghiệm đánh giá chức năng sinh sản và phiếu đánh giá chức năng tình dục. Đối với bệnh nhân được chỉ định điều trị hỗ trợ sinh sản, cần có đầy đủ thông tin về phác đồ kích thích buồng trứng, kết quả thụ tinh, yếu tố trong quá trình theo dõi chuyển phôi, kết quả mang thai sau chuyển phôi và các xét nghiệm nội tiết liên quan.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
a. Thăm khám và các xét nghiệm cần làm cho người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh
- Hỏi, khai thác tiền sử (đặc biệt tiền sử sản khoa, PARA, bệnh lý toàn thân, phẫu thuật,...), hỏi bộ câu hỏi FSFI đánh giá chức năng tình dục nữ.
- Khám toàn thân: mạch, nhiệt độ, huyết áp, chiều cao, cân nặng, vòng bụng/mông. - Xét nghiệm các chỉ số máu thường quy: HIV, Viêm gan B, C, Giang mai.
- Bệnh sạch kinh từ 2-3 ngày:
+ Khám phụ khoa: Khám vú, cơ quan sinh dục ngoài, đặt mỏ vịt.
+ Xét nghiệm phụ khoa: Vi nấm soi tươi, STD, Tầm soát Tế bào ung thư cổ tử cung + Siêu âm phụ khoa bằng đầu dò âm đạo.
- Tùy từng trường hợp có chỉ định Chụp phim Tử cung- vòi trứng.
- Bệnh đang có kinh ngày 2 hoặc ngày 3:
+ Xét nghiệm nội tiết: LH, FSH, Testosteron, Prolactin, Estradiol.
+ Xét nghiệm khảo sát dự trữ buồng trứng AMH.
b. Thăm khám và các xét nghiệm cần làm cho người chồng trong cặp vợ chồng vô sinh
- Hỏi tiền sử (tiền sử mắc bệnh quai bị, bệnh lý về cơ quan sinh sản, bệnh lý toàn thân, phẫu thuật,...), hỏi bộ câu hỏi PEDT và IIEF-15 đánh giá chức năng cương dương và xuất tinh.
- Khám toàn thân: mạch, nhiệt độ, huyết áp, chiều cao, cân nặng, vòng bụng/mông.
- Các xét nghiệm máu thường quy: HIV, Viêm gan B, C, Giang mai.
- Xét nghiệm tinh dịch đồ, test đứt gãy DNA tinh trùng, siêu âm tinh hoàn, STDs và thăm dò các xét nghiệm khác khi cần thiết.(LH, FSH, Testosterone, prolactin, ...)
C. Chỉ định IUI hoặc IVF
d. Đánh giá hiệu quả điều trị vô sinh
Sau chuyển phôi 11 ngày hoặc sau bơm IUI 14 ngày, bệnh nhân được chỉ định làm xét nghiệm định lượng bhCG huyết thanh. Trường hợp ghi nhận có thai khi nồng độ bhCG huyết thanh > 50mIU/mL. Sau thử bhCG 14 ngày, bệnh nhân được hẹn siêu âm đánh giá số lượng, vị trí túi thai qua siêu âm. Thai lâm sàng được định nghĩa khi thấy hình ảnh túi thai trong lòng tử cung. Tiếp tục theo dõi thai diễn tiến ở thai kỳ trên 12 tuần và kết quả sinh con (sinh thường/ mổ lấy thai, tình trạng và cân nặng thai lúc sinh, bất thường bẩm sinh hoặc mắc phải). Trường hợp bệnh nhân có trẻ sinh sống được ghi nhận là điều trị thành công.

