SDH.NCS Nghiên cứu mô hình bệnh tật và đánh giá sự phát triển thể chất, tinh thần vận động ở trẻ đẻ non tới 24 tháng tại Thanh Hóa
PDF Download: 0 View: 0

Tóm tắt

* Tổng quan

Tổ chức y tế Thế giới (WHO) định nghĩa trẻ sinh non là những trẻ sinh trước 37 tuần thai. Năm 2020, theo ước tính có khoảng 13,4 triệu trẻ em sinh ra là đẻ non, chiếm khoảng 11 % trẻ sơ sinh trong năm. Với 1 triệu trẻ sơ sinh hàng năm chết vì đẻ non ở độ tuổi dưới 5 năm đầu đời, đây hiện là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em, chiếm 18% số trẻ em tử vong dưới 5 năm và 35% tử vong của trẻ sơ sinh (trẻ ≤ 28 ngày tuổi). Trẻ em, trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ sơ sinh đẻ non có đặc điểm hình thái học, sinh lý, miễn dịch học riêng nên có mô hình bệnh tật khác biệt hoàn toàn so với trẻ lớn và trẻ sơ sinh đủ tháng.

Trong báo cáo mới nhất của WHO năm 2024 về cơ cấu bệnh tật và tử vong, trẻ sơ sinh đẻ non vẫn nằm trong nhóm 10 nguyên nhân gây tử vong toàn cầu ở các nước thu nhập thấp và trung bình – thấp trong 20 năm qua, với thứ tự có thể thay đổi tùy thuộc vào mức độ phát triển của khu vực hay điều kiện kinh tế, xã hội. Nghiên cứu mô hình bệnh tật trẻ đẻ non vì vậy lại càng cấp thiết để nắm bắt được cơ cấu bệnh tật của đối tượng này, từ đó có phương án chuẩn bị tốt hơn về cơ sở vật chất, con người nhằm đáp ứng tốt nhu cầu điều trị bệnh và nâng cao chất lượng điều trị bệnh nhân đẻ non.

Tại Việt Nam, ước tính hàng năm có khoảng 103.500 trẻ sinh non, nhẹ cân, chiếm 19% trong mô hình bệnh tật của trẻ sơ sinh. Nguyên nhân tử vong của trẻ sơ sinh chủ yếu do đẻ non, nhẹ cân, ngạt, chấn thương trong đẻ, dị tật và các bệnh nhiễm khuẩn, trong đó tử vong do nguyên nhân nhẹ cân chiếm 25%.

Đối với trẻ đẻ đẻ non, sự trưởng thành, hành vi, tổ chức và phát triển thần kinh được tiếp diễn trong môi trường bên ngoài tử cung. Trong những tuần đầu tiên này, trẻ phải đối mặt với rất nhiều thách thức và có nguy cơ mắc các bệnh lý mãn tính. Những bệnh lý thường gặp của trẻ đẻ non ở giai đoạn sơ sinh là: Nhóm bệnh lý hô hấp (Bệnh màng trong, suy hô hấp, xuất huyết phổi, tràn khí màng phổi, viêm phổi), nhóm bệnh lý tim mạch (còn ống động mạch, sốc, các dị tật bẩm sinh khác), nhóm bệnh lý nhiễm khuẩn (nhiễm khuẩn sơ sinh sớm và muộn, viêm màng não nhiễm khuẩn), nhóm bệnh lý thần kinh (xuất huyết não, co giật sơ sinh), nhóm bệnh lý chuyển hóa (hạ đường huyết, tăng đường huyết, hạ thân nhiệt, vàng da),  thiếu máu, các bệnh lý tiêu hóa (viêm ruột hoại tử), …

Trong khoảng 2 thập kỷ gần đây, đã có sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực hồi sức tích cực sơ sinh, những trang thiết bị, máy móc hiện đại cùng với các chiến lược chăm sóc trẻ sơ sinh trong 1000 ngày đầu đời giúp tăng tỷ lệ sống sót của trẻ đẻ non. Song song với tỷ lệ sống cao hơn thì tỷ lệ dân số mang các di chứng cũng tăng lên.

Những trẻ đẻ non có nguy cơ mắc nhiều bệnh như: chậm phát triển tinh thần, vận động, giảm khả năng học tập, cũng như những vấn đề về tai và mắt, dễ mắc các bệnh lý nhiễm khuẩn. Trong đó, vấn đề về sự phát triển thể chất, tâm thần và vận động của trẻ đẻ non là chủ đề được nhiều nhà khoa học nghiên cứu.

Cũng như các tổn thương khác của phổi, mắt, thì những vấn đề về thể chất, tinh thần và vận động của trẻ sơ sinh đẻ non cũng liên quan mật thiết với tuổi thai sinh ra của trẻ. Xu hướng sinh đẻ non ở các khu vực được ghi nhận có sự thay đổi về mặt số lượng tăng hay giảm, và tỷ lệ sống, tỷ lệ di chứng sớm, di chứng muộn thay đổi tùy theo tuổi thai, chủng tộc, khu vực cũng như khác biệt ở kết quả các nghiên cứu về do sử dụng các công cụ đánh giá. Tại Mỹ, nghiên cứu theo dõi sự phát triển của trẻ đẻ non muộn và non ghi nhận, tỷ lệ trẻ đẻ non 34-36 tuần và 32-34 tuần chiếm 84% tổng số trẻ đẻ non. Trong một nghiên cứu đa trung tâm trên 10 877 trẻ cực non (EPI) ở Mỹ giai đoạn 2013-2018, tỷ lệ sống sau điều trị là 78,3% cao rõ rệt hơn giai đoạn 2008-2012 (76,0 %). Trong số đó, qua quá trình nghiên cứu theo dõi 2 năm sau ra viện, tỷ lệ thường xuyên tái nhập viện xảy ra ở 49,9% và 21,2% bệnh nhân có tổn thưởng của phát triển tâm thần, vận động.

Tại Việt Nam, nghiên cứu năm 2020 tại Bệnh viện Nhi Đồng I cho thấy trẻ sinh cực đẻ non và rất non có nguy cơ cao có các rối loạn về phát triển tâm thần, vận động so với trẻ đẻ non muộn và trẻ sinh non, với tỷ lệ sống tới 2 tuổi hiệu chỉnh là 76%, 17% trẻ có vấn đề phát triển tinh thần, 8% rối loạn ngôn ngữ, 4% chậm phát triển vận động, 7% bệnh nhân đẻ non trong nghiên cứu được chẩn đoán là bại não.

* Đề tài được thực hiện với mục tiêu: 

  1. Nghiên cứu mô hình bệnh tật ở trẻ đẻ non điều trị tại Bệnh viện Phụ Sản và Bệnh viện Nhi Thanh Hóa.
  2. Đánh giá sự phát triển thể chất, tinh thần vận động của trẻ sơ sinh đẻ non cho đến 24 tháng tuổi hiệu chỉnh
  3. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển ở trẻ sơ sinh đẻ non tại tỉnh Thanh Hóa.

- Bước 1: Tất cả trẻ sơ sinh đẻ non điều trị tại Bệnh viện Phụ sản và Bệnh viện Nhi Thanh Hóa được thu thập thông tin theo mẫu phiếu nghiên cứu số 1. Các thông tin thu thập bao gồm: Các thông tin chung, và đặc điểm bệnh tật giai đoạn sơ sinh (giai đoạn T0, Mục tiêu1).

- Bước 2: Khi trẻ ra viện được cung cấp phiếu hẹn để tái khám theo hẹn tại các giai đoạn tiếp theo nhằm theo dõi mục tiêu 2. Các trẻ sơ sinh đẻ non được theo dõi và đánh giá ở các giai đoạn: 40 tuần hiệu chỉnh (T1), giai đoạn 6 tháng (T2), giai đoạn 12 tháng (T3), giai đoạn 18 tháng (T4), giai đoạn 24 tháng (T5).

Các thông tin đánh giá ở các lần theo dõi bao gồm:

+ Sự phát triển thể chất (cân nặng, chiều cao, vòng đầu, vòng cánh tay), + Sự phát triển tinh thần vận động (test Denver II).

Ở các giai đoạn nếu trẻ có vấn đề về phát triển thể chất (suy dinh dưỡng hoặc béo phì) và tinh thần vận động (chậm phát triển tinh thần vận động) sẽ được can thiệp điều trị và đánh giá hiệu quả ở lần theo dõi tiếp theo.

+ Đánh giá các biến chứng: ROP, khám mắt, khám thính lực (OAE).

+ Ở giai đoạn 12 tháng trẻ được xét nghiệm đánh giá một số vi chất dinh dưỡng: Sắt, canxi, kẽm, D3.

- Bước 3: Thu thập thông tin và phân tích số liệu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ đẻ non tại tỉnh Thanh Hóa.

PDF Download: 0 View: 0