NCKH.TRUONG Đánh giá khả năng dự báo ung thư nội mạc tử cung của thang điểm REM và REM-B ở phụ nữ ra máu âm đạo sau mãn kinh
PDF Download: 0 View: 0

Tóm tắt

Ung thư nội mạc tử cung là loại ung thư phụ khoa phổ biến nhất và đang gia tăng tần suất trên toàn cầu cũng như ở Việt Nam. Dữ liệu từ GLOBOCAN 2022 số ca mắc mới được ghi nhận tại Việt Nam là 4953 ca và số ca tử vong đạt 1374 trường hợp. Cùng với xu hướng gia tăng tình trạng béo phì, lối sống tĩnh tại Việt Nam cũng như các nước châu Á, tỷ lệ mắc mới của bệnh lý ung thư này được dự đoán sẽ còn tăng cao trong tương lai như đã quan sát được ở các nước phát triển. Ra máu âm đạo bất thường sau mãn kinh được ghi nhận là triệu chứng ban đầu thường gặp của ung thư nội mạc tử cung. Trong chiến lược quản lý ung thư, chẩn đoán sớm là yếu tố quan trọng giúp cải thiện đáng kể tiên lượng cũng như thời gian sống của bệnh nhân. Từ đó nhấn mạnh vai trò của tầm soát cũng như giá trị của các công cụ tầm soát ung thư nội mạc tử cung.

Siêu âm đường âm đạo là công cụ đánh giá đầu tay trên các bệnh nhân ra máu sau mãn kinh; trong đó, độ dày nội mạc tử cung là đặc điểm thường được sử dụng để dự báo nguy cơ ác tính. Nhiều nghiên cứu chỉ ra độ dày nội mạc tử cung ≤ 4-5mm gần như loại trừ được ung thư nội mạc tử cung với nguy cơ rất thấp < 1%. Năm 2013, các đặc điểm siêu âm IETA được công bố nhằm bổ sung và cải tiến khả năng dự báo bệnh lý ác tính của tử cung. Trên nền tảng hệ thống thuật ngữ IETA kết hợp với một số đặc điểm lâm sàng, nhiều mô hình dự báo như mô hình IETA-1 hay mô hình Risk of Endometrial Cancer (REC) đã được phát triển, áp dụng thử nghiệm trong nhiều nghiên cứu và mang lại kết quả khả quan trong vai trò tầm soát sớm đối với bệnh lý ung thư nội mạc tử cung.

Bên cạnh các kỹ thuật hình ảnh học, các kỹ thuật xét nghiệm huyết thanh cũng ngày càng được quan tâm với hàng loạt các marker đã và đang được nghiên cứu ứng dụng. Trong số đó, CA-125 và HE4 là hai dấu ấn được đánh giá cao và có tiềm năng trở thành dấu ấn sinh học được sử dụng rộng rãi trong sàng lọc ung thư nội mạc tử cung. CA-125 là dấu ấn được sử dụng rộng rãi trong nhiều bệnh lý phụ khoa và độ đặc hiệu với ung thư nội mạc báo cáo trong một phân tích gộp ở mức trung bình cao với 0,81 (KTC 95%: 0,78 – 0,84); nhưng độ nhạy lại tương đối hạn chế 0,26 (KTC 95%: 0,24 – 0,29). Độ đặc hiệu của HE4 trong bệnh lý này rất triển vọng 0,91 (KTC 95%: 0,89 – 0,93) tuy nhiên độ nhạy chỉ trong khoảng trung bình 0,53 (KTC 95%: 0,50 – 0,56). Bên cạnh đó, giá trị của những dấu ấn này tăng khi sử dụng phối hợp với AUC có thể đạt 0,83-0,86 khi phối hợp HE4 và CA125. Đồng thời, giá trị HE4 còn có tương quan với mức độ bệnh, giai đoạn và tình trạng xâm lấn cơ tử cung, gợi ý tiềm năng của HE4 trong phân tầng nguy cơ và tiên lượng bệnh.

Để cải thiện và tối ưu hóa khả năng dự báo nguy cơ, một số mô hình tính toán phối hợp các đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và xét nghiệm sinh hóa được xây dựng và đề xuất. Tác giả Angolo và cộng sự đã công bố thang điểm Risk of Endometrial Malignancy (REM) dựa trên các đặc điểm tuổi, triệu chứng, các đặc điểm siêu âm (độ dày nội mạc) và sinh hóa (HE4 huyết thanh). Trong nghiên cứu gốc, REM đạt độ nhạy khoảng 93% và độ đặc hiệu 97%. Mô hình này sau đó được xác nhận ở một dữ liệu độc lập khác với kết quả tương tự (độ nhạy 93,9%, độ đặc hiệu 95,4%). Năm 2018, nhóm tác giả đã cải tiến bổ sung chỉ số BMI vào công thức thành thang điểm REM-B, tính chính xác cải thiện nhẹ (đạt độ nhạy 94,7%, độ đặc hiệu 97,4%, AUC ≈0,97) dựa theo báo cáo từ nghiên cứu gốc và vượt trội so với sử dụng siêu âm hay sinh hóa đơn thuần. Tuy nhiên, các nghiên cứu ứng dụng hai thang điểm trên hầu như chỉ sử dụng ở quần thể châu Âu nên khả năng ứng dụng tại các nước châu Á, đặc biệt Việt Nam vẫn cần chưa xác định. Sự khác biệt trong lối sống, khả năng phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ như béo phì, thuốc lá,… và đặc biệt là khác biệt trong ngưỡng thừa cân và béo phì khi sử dụng BMI giữa người châu Á và châu Âu đặt ra vấn đề cần kiểm định và điều chỉnh thang điểm phù hợp. Do đó, nhằm ứng dụng và kiểm định khả năng dự báo của hai thang điểm REM và REM-B tại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh xu hướng tăng cao của các yếu tố nguy cơ và tỷ lệ mắc mới của ung thư nội mạc tử cung. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá khả năng dự báo ung thư nội mạc tử cung của REM và REM-B ở phụ nữ ra máu âm đạo sau mãn kinh” và hướng đến chiến lược sàng lọc và chẩn đoán sớm phù hợp hơn cho nhóm bệnh nhân nguy cơ cao tại Việt Nam.

PDF Download: 0 View: 0