KHẢO SÁT MỐI LIÊN QUAN GIỮA VỊ TRÍ RĂNG KHÔN HÀM DƯỚI VÀ VỊ TRÍ CHÓP CHÂN RĂNG SO VỚI BẢN XƯƠNG MẶT TRONG TRÊN PHIM CONEBEAM CT
PDF Download: 0 View: 0

Tóm tắt

7. Tính cấp thiết của đề tài

Răng khôn hàm dưới là răng thường gây nhiều biến chứng khi mọc như viêm quanh thân răng, viêm mô tế bào, bệnh nha chu, sâu răng kế cận. Phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới là một trong những thủ thuật phổ biến trong điều trị nha khoa nhằm giải quyết hoặc ngăn ngừa các biến chứng này.

Trong và sau phẫu thuật nhổ răng khôn, bệnh nhân có thể gặp nhiều biến chứng, bao gồm nhiễm trùng, hạn chế há miệng, tổn thương thần kinh hàm dưới hoặc thần kinh lưỡi. Đặc biệt, gãy bản xương mặt trong và di lệch chân răng hoặc mảnh chân răng vào các khoang giải phẫu xung quanh đã được ghi nhận trong thực hành lâm sàng, dù tỷ lệ chính xác chưa được thống kê đầy đủ. Những biến cố này có thể dẫn đến chảy máu, nhiễm trùng các khoang dưới hàm và khoang dưới lưỡi, cũng như tổn thương thần kinh lưỡi. Do đó, việc dự đoán nguy cơ và phòng ngừa các biến chứng này, cùng việc xác định các yếu tố nguy cơ liên quan, vẫn còn là vấn đề cần nghiên cứu thêm.

Các biến chứng trên được cho là liên quan mật thiết đến đặc điểm giải phẫu của chóp răng và bản xương mặt trong, bao gồm độ dày, hình thái và vị trí tương quan giữa chóp răng và bản xương. Phim Conbeam CT (phim cắt lớp vi tính chùm tia hình nón) là phương tiện hình ảnh hiện đại, cho phép đánh giá chính xác vị trí chóp răng và bản xương mặt trong theo ba chiều, vượt trội so với các phương pháp chụp X-quang truyền thống.

Tuy nhiên, theo sự tìm hiểu và tổng hợp tài liệu của nhóm nghiên cứu, hiện nay tại Việt Nam chưa có công trình nào khảo sát mối liên quan giữa vị trí răng khôn hàm dưới và vị trí chóp răng so với bản xương mặt trong. Nghiên cứu này nhằm cung cấp dữ liệu định lượng về vị trí chóp răng so với bản xương mặt trong và mối liên quan với các vị trí mọc răng khôn hàm dưới, từ đó góp phần làm rõ các yếu tố liên quan và nâng cao hiệu quả cũng như an toàn trong thực hành phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới.

8. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu trên thế giới - Wang và cộng sự (2016) thực hiện nghiên cứu “Topographic relationship between root apex of mesially and horizontally impacted mandibular third molar and lingual plate”. Họ dùng CBCT trên 364 răng khôn hàm dưới của 223 bệnh nhân. Kết quả cho thấy khoảng cách trung bình từ chóp răng đến mặt ngoài bản xương lưỡi là 1,39 mm, độ dày vỏ xương trung bình khoảng 1,02 mm. Tỷ lệ chóp răng tiếp xúc hoặc xuyên thủng bản xương mặt trong cao, đặc biệt ở răng mọc nghiêng hoặc ngang. - Emes và cộng sự (2018) thực hiện nghiên cứu “Measurement of the lingual position of the lower third molar roots using cone‑beam computed tomography”. Trên 110 răng khôn, khoảng cách trung bình từ chóp răng đến bản xương mặt lưỡi là 1,03 mm; 25% chóp răng tiếp xúc hoặc xuyên qua bản xương.

- Yüceer‑Çetiner và cộng sự (2025) qua nghiên cứu “Does the Position of the Mandibular Third Molar Have an Effect on the Lingual Bone Morphology? A Cone Beam Computed Tomography Evaluation” đã tiến hành khảo sát 120 răng khôn hàm dưới bằng CBCT để đánh giá mối quan hệ giữa vị trí chóp răng và bản xương mặt trong. Kết quả cho thấy răng khôn mọc nghiêng hoặc ngang có độ dày vỏ xương lưỡi mỏng hơn, đồng thời tăng nguy cơ chóp răng tiếp xúc hoặc xuyên thủng bản xương so với răng mọc thẳng.

Nghiên cứu trong nước

Theo sự tìm hiểu và tổng hợp tài liệu của nhóm nghiên cứu, hiện nay tại Việt Nam chưa có công trình nào khảo sát mối liên quan giữa vị trí răng khôn hàm dưới và vị trí chóp răng so với bản xương mặt trong.

Tài liệu tham khảo

1.     Parhiz SA, Bakhtiary P, Mosavat F, Kharazifard MJ. Thickness of buccal and lingual alveolar bone plates according to the position of impacted mandibular third molars on cone-beam computed tomography scans. Frontiers in Dentistry. 2019;16(4):279–289.

2.     Wang D, He X, Wang Y, Zhou G, Sun C, Yang L, Bai J, Gao J, Wu Y, Cheng J. Topographic relationship between root apex of mesially and horizontally impacted mandibular third molar and lingual plate: cross-sectional analysis using CBCT. Scientific Reports. 2016;6:39268.

3.     Emes Y, Oncu B, Aybar B, Al-Badri N, Issever H, Atalay B, Yalcin S. Measurement of the lingual position of the lower third molar roots using cone-beam computed tomography. Journal of Oral and Maxillofacial Surgery. 2015;73:13–17.

Yüceer-Çetiner E, Sakarya Ö, Vural A, Kazan D. Does the position of the mandibular third molar have an effect on the lingual bone morphology? A cone beam computed tomography evaluation. Diagnostics. 2025;15:2401.

9. Mục tiêu nghiên cứu

1. Mô tả đặc điểm vị trí của răng khôn hàm dưới và vị trí chóp răng so với bản xương mặt trong trên phim Conebeam CT.

2. Khảo sát mối liên quan giữa vị trí răng khôn hàm dưới và vị trí chóp răng so với bản xương mặt trong trên phim Conbeam CT.

10. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang.

10.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu

12/2025 đến tháng 12/2026

10.2. Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu bao gồm gồm hình ảnh CBCT của các bệnh nhân ≥ 18 tuổi có răng khôn hàm dưới được lấy từ 2 nguồn: (1) phim hiện đang lưu giữ tại phòng khám Răng Hàm Mặt, bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, (2) phim CBCT của các bệnh nhân đến khám trong thời gian nghiên cứu. Những răng khôn hàm dưới mọc lạc chỗ, có tổn thương vùng quanh chóp hay hình ảnh CBCT chất lượng không tốt được loại trừ khỏi nghiên cứu.

10.3. Cỡ mẫu nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu dự kiến tối thiểu khoảng 52 răng khôn hàm dưới, đảm bảo vượt ngưỡng cỡ mẫu tối thiểu theo phân tích thống kê trước (α = 0,05; 1 − β = 0,95).

10.4. Phương pháp chọn mẫu

Hồi cứu phim CBCT của các bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên có răng khôn hàm dưới đến khám tại bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Sau đó đối chiếu các tiêu chuẩn chọn mẫu và lấy các phim CBCT đủ điều kiện để tiến hành nghiên cứu.

10.5. Biến số nghiên cứu

1. Nhóm tuổi: 18-25, 26-35, 36.

2. Giới tính: nam, nữ.

3. Mối tương quan của răng khôn hàm dưới so với răng 7 (phân loại Pell – Gregory): loại A, B, C.

4. Mối tương quan của răng khôn hàm dưới so với cành đứng xương hàm dưới (phân loại Pell – Gregory): vị trí I, II, III.

5. Chiều hướng mọc của răng khôn hàm dưới (phân loại của Winter): mọc thẳng, lệch gần, lệch xa, nằm ngang, nằm ngược.

6. Vị trí chóp răng: Mối quan hệ vị trí giữa chóp răng và bản xương mặt trong được phân loại thành: không tiếp xúc, tiếp xúc, hoặc xuyên thủng.

7. Các biến số: độ dày bản xương mặt trong tại vị trí chóp chân răng, khoảng cách từ chóp chân răng đến giới hạn trong của bản xương mặt trong, khoảng cách từ chóp chân răng đến giới hạn ngoài của bản xương mặt trong (đo và tính bằng đơn vị mm).

Để xác định các phép đo này, chóp răng nằm ở vị trí trong nhất của mỗi răng khôn hàm dưới được xác định trên mặt phẳng đứng dọc của phim CBCT. Với các răng nhiều chân, chóp răng tại vị trí trong nhất được chọn. Lát cắt hình ảnh thể hiện phần trong nhất của chóp răng được dùng cho phân tích tiếp theo. Một đường tham chiếu ngang được vẽ từ điểm trong nhất của chóp răng, giao với giới hạn trong và giới hạn ngoài của bản xương mặt trong. Sử dụng công cụ đo của phần mềm để đo các khoảng cách này. Mỗi phép đo được lặp lại ba lần, giá trị trung bình được ghi nhận.

PDF Download: 0 View: 0