NCKH.Doclap KHẢO SÁT CĂNG THẲNG, LO ÂU, TRẦM CẢM CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA NHI TỔNG HỢP, BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y-DƯỢC HUẾ
PDF Download: 0 View: 0

Tóm tắt

I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tầm quan trọng của nghiên cứu        

Việc trẻ phải nhập viện điều trị không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất của trẻ mà còn gây tác động đáng kể đến sức khỏe tâm thần của cha mẹ, đặc biệt là các bà mẹ – người thường trực tiếp chăm sóc và đồng hành cùng trẻ trong suốt quá trình điều trị. Trong bối cảnh này, các bà mẹ phải đối mặt với nhiều áp lực như lo lắng về bệnh tật của con, chi phí điều trị và sự thay đổi trong cuộc sống, từ đó dễ dẫn đến căng thẳng, lo âu và trầm cảm. Các nghiên cứu đã ghi nhận tỷ lệ lo âu và trầm cảm ở cha mẹ có con nhập viện ở mức cao, với tỷ lệ trầm cảm khoảng 49,7% và lo âu 69,0% (Franck và cs, 2025). Tại Việt Nam, sức khỏe tâm thần của người chăm sóc trẻ bệnh cũng đã được quan tâm, tuy nhiên vẫn chưa được đánh giá đầy đủ trong thực hành lâm sàng (Bộ y tế, 2020). Do đó, việc khảo sát thực trạng căng thẳng, lo âu và trầm cảm của các bà mẹ có con điều trị tại khoa Nhi là cần thiết nhằm cung cấp bằng chứng khoa học cho các can thiệp hỗ trợ tâm lý và nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện.

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy cha mẹ của trẻ nhập viện có nguy cơ cao gặp các rối loạn tâm lý. Một tổng quan hệ thống ghi nhận gần một nửa cha mẹ có triệu chứng trầm cảm và hơn hai phần ba có triệu chứng lo âu khi con điều trị nội trú (Franck và cs, 2025). Các bà mẹ thường bị ảnh hưởng nhiều hơn do đảm nhận vai trò chăm sóc chính, với tỷ lệ trầm cảm và lo âu đáng kể (Al-Graiti và cs, 2024). Ngoài ra, các yếu tố như mức độ nặng của bệnh, thời gian nằm viện kéo dài, thiếu hỗ trợ xã hội và gánh nặng tài chính làm gia tăng nguy cơ căng thẳng tâm lý (Cousine & Hazen, 2013). Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ mà còn làm giảm hiệu quả chăm sóc và kết quả điều trị của trẻ (Mehra và cs, 2026). Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đã bước đầu ghi nhận tình trạng stress, lo âu và trầm cảm ở người chăm sóc bệnh nhi, đặc biệt trong các khoa hồi sức và bệnh mạn tính, cho thấy đây là một vấn đề đáng quan tâm trong thực hành điều dưỡng và chăm sóc toàn diện (Hương & Công, 2021).

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới và một số nghiên cứu tại Việt Nam về sức khỏe tâm thần của cha mẹ có con nhập viện, nhưng các dữ liệu tại từng cơ sở y tế cụ thể vẫn còn hạn chế. Đặc biệt, tại Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá toàn diện mức độ căng thẳng, lo âu và trầm cảm của các bà mẹ có con điều trị tại khoa Nhi tổng hợp. Bên cạnh đó, các yếu tố liên quan trong bối cảnh văn hóa, kinh tế và hệ thống hỗ trợ tại địa phương vẫn chưa được làm rõ. Vì vậy, nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung bằng chứng khoa học tại Việt Nam, làm cơ sở xây dựng các chương trình can thiệp phù hợp nhằm hỗ trợ tâm lý cho các bà mẹ và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhi.

2. Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá mức độ căng thẳng, lo âu, trầm cảm theo thang đo DASS21 của các bà mẹ có con điều trị tại Khoa Nhi Tổng hợp, bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế.

           - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm các bà mẹ có con điều trị tại Khoa Nhi Tổng hợp, bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Thiết kế nghiên cứu  

Nghiên cứu này sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang phân tích

2.2. Đối tượng nghiên cứu và lấy mẫu 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các bà mẹ đang có con điều trị nội trú tại Khoa Nhi, Bệnh viện trường Đại học Y-Dược Huế

Tiêu chuẩn chọn mẫu:

- Các bà mẹ có con đang điều trị nội trú

- Bà mẹ có khả năng đọc, viết và sử dụng Internet/điện thoại thông minh

- Tự nguyện ký phiếu đồng thuận tham gia nghiên cứu.

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Bà mẹ có khiếm khuyết về nhận thức hoặc giao tiếp không ổn định.

2.2.2. Phương pháp lấy mẫu và cỡ mẫu

- Phương pháp lấy mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (Convenience sampling). Nghiên cứu viên sẽ tiếp cận tất cả các bà mẹ thỏa mãn tiêu chí tại các khoa lâm sàng cho đến khi đạt đủ số lượng.

- Cỡ mẫu: Cỡ mẫu được tính bằng phần mềm tính cỡ mẫu G*Power 3.1.9.7 (Cohen, 1992) với mức ý nghĩa α = 0,05; power = 0,9 và hệ số ảnh hưởng (Effect size = 0,3) chạy với thuật toán t-test.  Từ đó cỡ mẫu được tính tối thiểu là 109. Cỡ mẫu dự kiến nghiên cứu là 120.

2.3. Công cụ nghiên cứu

 Bộ công cụ nghiên cứu được cấu trúc hóa để thu thập dữ liệu định lượng chính xác, bao gồm 3 phần:

Phần 1: Đặc điểm chung: Được thiết kế dựa trên các biến số lâm sàng và xã hội liên quan đến người mẹ và trẻ (16 câu hỏi). Các biến số này bao gồm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, thu nhập và đặc điểm bệnh lý của trẻ.

Phần 2: Thang đo DASS 21 (Lovibond, 1995) gồm 21 tiểu mục chia thành 03 nhóm, mỗi nhóm gồm 07 tiểu mục. Mỗi tiểu mục là một mô tả về triệu chứng thực thể hoặc tinh thần. Điểm cho mỗi tiểu mục là từ 0 đến 03 điểm, tùy thuộc mức độ và thời gian xuất hiện triệu chứng: 0 điểm - không đúng chút nào cả; 01 điểm - đúng phần nào; hoặc thỉnh thoảng mới đúng; 02 điểm - đúng phần nhiều; hoặc phần lớn thời gian là đúng; 03 điểm - hoàn toàn đúng hoặc hầu hết thời gian là đúng. Sau khi cộng tổng điểm của từng nhóm 07 tiểu mục, kết quả thu được sẽ nhân với 02, khi đó DASS 21 sử dụng bảng đánh giá mức độ dưới đây:

Mức độ

Trầm cảm

Lo âu

Stress

Bình thường

0 – 9

0 – 7

0 – 14

Nhẹ

10 – 13

8 – 9

15 – 18

Vừa

14 – 20

10 – 14

19 – 25

Nặng

21 – 27

15 – 19

26 – 33

Rất nặng

≥ 28

≥ 20

≥ 34

2.4. Phương pháp thu thập dữ liệu

Sau khi được Hội đồng Đạo đức phê duyệt, quy trình thu thập được thực hiện như sau:

  1. Tiếp cận: Nghiên cứu viên lựa chọn các đối tượng phù hợp tiêu chuẩn chọn mẫu và giới thiệu về nghiên cứu.
  2. Giải thích: Giải thích rõ mục đích nghiên cứu, tính bảo mật và ký phiếu đồng ý.
  3. Phát phiếu: Bà mẹ tự điền thông tin vào phiếu điều tra giấy. Nghiên cứu viên ở bên cạnh để hỗ trợ giải thích nếu bà mẹ có thắc mắc về thuật ngữ.
  4. Kiểm tra: Kiểm tra độ đầy đủ của phiếu ngay khi nhận lại để tránh mất dữ liệu
2.5. Phân tích dữ liệu

Dữ liệu sẽ được mã hóa và nhập bằng phần mềm Microsoft Excel, sau đó được phân tích bằng phần mềm SPSS:

Thống kê mô tả: Tính tần suất, tỷ lệ phần trăm cho các biến định danh. Tính trung bình và độ lệch chuẩn cho các biến định lượng.

Biến phụ thuộc kiến thức và thái độ được kiểm tra phân phối chuẩn bằng cách sử dụng phương pháp Skewness (độ lệch) và Kurtosis (độ nhọn). Phân phối chuẩn được tính toán bằng cách sử dụng điểm Kurtosis và Skewness chia cho sai số chuẩn (Std. Error) của chúng để đạt được điểm Z. Điểm Z trong khoảng từ -3,29 đến 3,29 (với cỡ mẫu 50 < n < 300) có thể được coi là phân phối chuẩn

Tùy thuộc vào tính phân phối chuẩn của dữ liêu, phép kiểm định T-test hoặc Mann–Whitney U test được sử dụng để so sánh giá trị trung bình điểm hỗ trợ xã hội giữa các nhóm biến số nhị phân. Đối với các biến số phân loại có từ 3 nhóm giá trị trở lên, nghiên cứu áp dụng kiểm định ANOVA hoặc Kruskal–Wallis để tìm kiếm sự khác biệt về mức độ hỗ trợ xã hội nhận được. Để đánh giá mối quan hệ tuyến tính giữa các biến số định lượng liên tục với căng thẳng, lo âu, trầm cảm, nghiên cứu sử dụng hệ số tương quan Pearson hoặc Spearman và phân tích hồi quy đa biến

2.6. Các vấn đề đạo đức

- Đảm bảo các bà mẹ tham gia nghiên cứu đã được cung cấp đầy đủ thông tin về nội dung, mục đích của nghiên cứu và hiểu rõ các điều khoản liên quan. Việc tham gia nghiên cứu của các bà mẹ hoàn toàn dựa trên tinh thần tự nguyện và sự đồng ý của họ.

- Cam kết bảo mật toàn bộ thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu và chỉ sử dụng chúng cho mục đích nghiên cứu. Mọi thông tin cá nhân của bà mẹ sẽ được mã hóa và giữ kín.

 

PDF Download: 0 View: 0