SDH.CK2 nghiên cứu đặc điểm hội chứng tiền mãn kinh - mãn kinh và chất lượng cuộc sống ở phụ nữ tại thành phố huế
PDF Download: 4 View: 4

Tóm tắt

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh là giai đoạn chuyển tiếp sinh lý tất yếu nhưng đầy thách thức trong cuộc đời người phụ nữ. Sự suy giảm nồng độ estrogen dẫn đến hội chứng tiền mãn kinh và mãn kinh với các triệu chứng đa dạng: từ rối loạn vận mạch, rối loạn tâm thần kinh đến các biến đổi về hệ niệu dục và chuyển hóa [1]. Những thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn tác động sâu sắc đến tâm lý và các mối quan hệ xã hội của người phụ nữ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), dân số toàn cầu của phụ nữ hậu mãn kinh đang tăng lên. Năm 2021, phụ nữ từ 50 tuổi trở lên chiếm 26% tổng số phụ nữ và trẻ em gái toàn cầu [2]. Theo số liệu mới nhất từ Tổng cục Thống kê năm 2024, Việt Nam đang trong tiến trình già hóa dân số nhanh chóng với dân số nữ chiếm 50,2%; tương đương khoảng 50,7 triệu người [3]. Sự cải thiện về điều kiện kinh tế và tiếp cận thông tin trong môi trường sống hiện đại đã thúc đẩy phụ nữ không chỉ tối ưu hóa chất lượng sống trong giai đoạn mãn kinh mà còn xây dựng nền tảng sức khỏe bền vững, giúp kiểm soát tốt hơn các nguy cơ bệnh lý tiềm ẩn, phù hợp định hướng chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân. [4], [5], [6].

Nghiên cứu từ SWAN (Study of Women’s Health Across the Nation) ghi nhận triệu chứng vận mạch, hoặc bốc hỏa và đổ mồ hôi đêm, thường được coi là triệu chứng chính của mãn kinh; 60-80% phụ nữ có triệu chứng vận mạch tại một số thời điểm trong giai đoạn chuyển tiếp mãn kinh, với tỷ lệ mắc thay đổi theo nhóm chủng tộc hoặc dân tộc [7]. Phần lớn phụ nữ (79%) dưới 50 tuổi khi báo cáo khởi phát bốc hỏa trung bình/nặng, với 45–49 tuổi là độ tuổi phổ biến nhất. Thời gian bốc hỏa khoảng 8 năm khi khởi phát ở nhóm tuổi 45–49 so với dưới 4 năm khi khởi phát ở tuổi ≥50 [8]. Hội chứng sinh dục - tiết niệu mãn kinh ảnh hưởng đến hơn 50% phụ nữ sau mãn kinh và có thể làm suy giảm đáng kể sức khỏe, chức năng tình dục và chất lượng cuộc sống [9], [10], [11].

Tuổi mãn kinh trung bình của phụ nữ Việt Nam là 48-50 tuổi, thấp hơn các nước phương Tây [12], [13]. Bộ Y tế đã ban hành “Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh sản – nội dung chăm sóc sức khỏe phụ nữ tuổi tiền mãn kinh, mãn kinh” năm 2024 nhằm thực hiện Nghị quyết 261/2025/QH15 và Chiến lược quốc gia bảo vệ sức khỏe nhân dân đến năm 2030 [4], [5], [11]. Trong nước cũng có nhiều nghiên cứu về sức khỏe mãn kinh. Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nhóm đã mãn kinh tại bệnh viện, ghi nhận tỷ lệ triệu chứng 70 - 90%, ảnh hưởng nặng nề đến lao động và mối quan hệ xã hội [14], [15], [16], [17].

Tại thành phố Huế, địa phương điển hình của miền Trung, đang đối mặt với già hóa dân số nhanh; các nghiên cứu trước đây mới chỉ khảo sát hiệu quả điều trị vận mạch hoặc loãng xương ở nhóm đã mãn kinh [14], [18]. Các nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ rối loạn chức năng cao nhưng chưa đánh giá toàn diện đặc điểm lâm sàng và mức độ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống ở nhóm phụ nữ tại cộng đồng [14], [18]. Khoảng trống này càng rõ nét khi công tác chăm sóc dự phòng sức khỏe sinh sản tiền mãn kinh, mãn kinh tại trạm y tế phường/xã còn hạn chế, dẫn đến nhiều phụ nữ chịu đựng triệu chứng mà không được can thiệp kịp thời [19], [20], [21], [22].

Xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu khoa học và nhu cầu thực tiễn địa phương, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm hội chứng tiền mãn kinh - mãn kinh  và chất lượng cuộc sống ở phụ nữ tại thành phố Huế” nhằm đạt được hai mục tiêu sau:

  1. Khảo sát đặc điểm của hội chứng tiền mãn kinh - mãn kinh ở phụ nữ tại thành phố Huế.
  2. Đánh giá chất lượng cuộc sống của các phụ nữ tiền mãn kinh – mãn kinh tại thành phố Huế.

 Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN VỀ MÃN KINH

1.1.1. Đại cương về mãn kinh

Mãn kinh là hiện tượng sinh lý được xác định khi người phụ nữ vô kinh liên tục 12 tháng do suy giảm chức năng buồng trứng không liên quan đến nguyên nhân bệnh lý hoặc can thiệp ngoại khoa. Sự suy giảm estrogen kéo dài sau mãn kinh dẫn đến nhiều biến đổi về cấu trúc giải phẫu, mô học và chức năng của cơ quan sinh dục nữ. Các thay đổi này mang tính tiến triển và có liên quan chặt chẽ đến quá trình lão hóa sinh học [8], [12], [23], [24], [25].

Tuổi mãn kinh tự nhiên trung bình khác nhau đáng kể giữa các vùng, các quốc gia, các dân tộc. Mặc dù tuổi mãn kinh đã được lập trình sẵn theo di truyền cho từng người, nhưng một số yếu tố làm thay đổi tuổi mãn kinh như tình trạng kinh tế xã hội, dinh dưỡng, yếu tố chủng tộc. Khoảng 90% phụ nữ trãi qua thời kỳ mãn kinh trong độ tuổi 45-55 tuổi. Tuổi mãn kinh trung bình ở các nước phát triển là 51 – 52 tuổi. Ở Việt Nam, tuổi mãn kinh trung bình của phụ nữ Việt Nam là 48 – 50 [12], [23].

Các nghiên cứu trong nước ghi nhận tỷ lệ triệu chứng teo sinh dục và rối loạn tiết niệu – sinh dục ở phụ nữ sau mãn kinh khá cao, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng sống [14], [18].

Sự suy giảm hoạt động nội tiết của buồng trứng trong giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh có thể dẫn tới những thay đổi về hình thể, tâm, sinh lý, gây ra những triệu chứng làm ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người phụ nữ, thậm chí gây ra các tình trạng bệnh lý ở nhiều cơ quan trong cơ thể như tim mạch, xương khớp, sinh dục, tiết niệu... [1], [12], [23].

1.1.2. Các khái niệm về mãn kinh

Mãn kinh

Mãn kinh là giai đoạn không sinh sản trong cuộc đời của người phụ nữ, là tình trạng hết hẳn kinh nguyệt do sự suy giảm sinh lý, tự nhiên và không hồi phục của hoạt động buồng trứng [1], [12], [23].

Tiền mãn kinh

Là thời kỳ từ khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên của rối loạn quanh mãn kinh và kết thúc bởi chu kỳ kinh sinh lý cuối cùng. Giai đoạn này được đặc trưng bởi chu kỳ kinh nguyệt không đều, thay đổi nội tiết và xuất hiện triệu chứng liên quan đến vận mạch như bốc hỏa, hồi hộp... ảnh hưởng đến chất lượng sống của phụ nữ [1], [12], [23].

Quanh mãn kinh

Quanh mãn kinh được dùng để chỉ khoảng thời gian chuyển tiếp từ giai đoạn sinh sản sang giai đoạn không sinh sản nữa trong cuộc đời người phụ nữ và thường được đặc trưng bởi các rối loạn kinh nguyệt do suy giảm chức năng buồng trứng. Quanh mãn kinh là giai đoạn tính từ lúc xuất hiện các triệu chứng của rối loạn tiền mãn kinh (kinh nguyệt không đều, thay đổi nội tiết và xuất hiện triệu chứng liên quan đến vận mạch), kéo dài đến thời điểm sau kì kinh tự nhiên cuối cùng 12 tháng. Giai đoạn này có thể kéo dài từ 3 - 5 năm [1], [12], [23].

Hậu mãn kinh

Hậu mãn kinh được tính từ thời điểm sau kỳ kinh tự nhiên cuối cùng [11], [12], [23].

1.1.3. Phân loại mãn kinh

Mãn kinh tự nhiên

Mãn kinh tự nhiên là mãn kinh do suy giảm hoạt động của buồng trứng một cách tự nhiên sinh lý [1].

Mãn kinh sau can thiệp y khoa

Là tình trạng chấm dứt vĩnh viễn kinh nguyệt sau khi cắt bỏ cả hai buồng trứng (có hoặc không có cắt bỏ tử cung) hoặc làm mất các chức năng buồng trứng sau điều trị (hóa chất, xạ trị....) [1].

Mãn kinh sớm

Mãn kinh sớm là mãn kinh trước 40 tuổi, chiếm tỷ lệ khoảng 5% đến 10% số phụ nữ có triệu chứng vô kinh thứ phát. Phụ nữ đã bị cắt tử cung với hai buồng trứng được bảo tồn sẽ mãn kinh sớm hơn 3 - 4 năm so với tuổi mãn kinh trung bình [1].

Mãn kinh muộn

Mãn kinh muộn là mãn kinh sau 55 tuổi, chiếm tỷ lệ 10 - 15%, có liên quan đến các yếu tố di truyền, béo phì, ...[1].

1.1.4. Chẩn đoán mãn kinh

1.1.4.1. Lâm sàng:

Biểu hiện lâm sàng của tiền mãn kinh

Giai đoạn này đặc trưng bởi sự biến động nội tiết, đặc biệt là tình trạng cường estrogen tạm thời do tăng nồng độ FSH.

  • Hệ quả của cường estrogen.

Chảy máu tử cung bất thường: Thay đổi về số lượng, thời gian và tần suất kinh nguyệt do niêm mạc tử cung bị kích thích kéo dài bởi estrogen mà không có sự đối kháng của progesterone.

Quá sản nội mạc tử cung: Sự tăng sinh quá mức có thể dẫn đến bệnh lý nội mạc hoặc tiến triển thành ung thư (nguy cơ từ 3% đến 25% tùy theo độ biệt hóa và điển hình của mô học) .

  • Thay đổi chu kỳ kinh nguyệt (phổ biến nhất khoảng 90%).

Chu kỳ ngắn lại: Là biến đổi sớm và thường gặp nhất.

Rong kinh/ rong huyết: Chảy máu > 7 ngày hoặc > 80ml/chu kỳ.

Kinh thưa và vô kinh: Thường xuất hiện ở giai đoạn muộn của tiền mãn kinh.

  • Các triệu chứng phối hợp.

Rối loạn vận mạch: Bốc hỏa (gặp ở 75% phụ nữ).

Rối loạn tâm thần kinh: Nhức đầu, mất ngủ (1/3 trường hợp), trầm cảm, mệt mỏi, giảm tập trung.

Rối loạn tình dục: Giảm ham muốn và giảm bôi trơn âm đạo [12], [23].

Biểu hiện lâm sàng của mãn kinh

Đặc trưng bởi tình trạng vô kinh kéo dài và các thay đổi do suy giảm estrogen mãn tính trên cơ quan đích.

  • Hệ tiết niệu - sinh dục (teo niệu sinh dục).

Âm đạo: Biểu mô mỏng, mất độ đàn hồi, tăng pH; gây khô, giao hợp đau và dễ nhiễm trùng .

Tử cung/ vú: Tử cung teo nhỏ (nội mạc < 4mm); mô tuyến vú bị thay thế bởi mô mỡ và xơ hóa.

Tiết niệu: Teo niêm mạc bàng quang/ niệu đạo dẫn đến tiểu rắt, tiểu gấp và tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu .

  • Triệu chứng vận mạch và thần kinh trung ương.

Bốc hỏa: Cảm giác nóng dữ dội vùng đầu, cổ, ngực kèm đổ mồ hôi và đánh trống ngực. Nguyên nhân do rối loạn trung tâm điều nhiệt tại vùng dưới đồi.

Nhận thức: Suy giảm chức năng nhận thức và trí nhớ do thiếu hụt estrogen tác động lên các thụ thể ở não.

  • Thay đổi chuyển hóa và hình thể.

Loãng xương: Giảm mật độ xương do thiếu hụt estrogen, dẫn đến tăng nguy cơ gãy xương.

Bệnh tim mạch: Nguy cơ biến cố tim mạch tăng mạnh sau tuổi 50 do mất đi sự bảo vệ của estrogen nội sinh.

Da và tóc: Da mỏng, giảm collagen; tăng sừng hóa hoặc rụng tóc do ưu thế androgen tương đối [12], [23].

1.1.4.2. Cận lâm sàng

FSH ≥ 40mIU/ml.

Estradiol < 25pg/l [1], [12], [23].

1.1.4.3. Chẩn đoán

Chẩn đoán tiền mãn kinh

Khi người phụ nữ trên 45 tuổi có triệu chứng rối loạn vận mạch và kinh nguyệt không đều [1].

Chẩn đoán mãn kinh

  1. a) Đối với phụ nữ trên 45 tuổi: Mất kinh liên tiếp 12 tháng và không sử dụng biện pháp tránh thai nội tiết.
  2. b) Đối với phụ nữ dưới 45:

- Mất kinh 12 tháng.

- Định lượng FSH: FSH > 40 mIU/ml trong hai lần xét nghiệm liên tiếp cách nhau 4 - 6 tuần, estradiol < 25pg/l.

  1. c) Mãn kinh sau phẫu thuật, hóa trị, xạ trị:

- Có tiền sử phẫu thuật cắt hai buồng trứng.

- Mất kinh sau phẫu thuật.

- Định lượng FSH: FSH > 40 mIU/ml trong hai lần xét nghiệm liên tiếp cách nhau 4-6 tuần, oestradiol < 25g/l [1].

1.2. THAY ĐỔI GIẢI PHẨU VÀ NỘI TIẾT THỜI KỲ MÃN KINH

1.2.1. Thay đổi giải phẩu cơ quan sinh dục nữ thời kỳ mãn kinh

1.2.1.1. Thay đổi tại âm hộ

Thiếu hụt estrogen sau mãn kinh làm giảm độ dày biểu mô và mật độ sợi collagen tại âm hộ. Về đại thể, môi lớn giảm mô mỡ dưới da, trở nên xẹp và nhăn nheo; môi bé teo nhỏ dần. Da và niêm mạc âm hộ mỏng, khô và giảm sắc tố [10], [49].

Ở mức độ vi thể, biểu mô lát tầng giảm số lớp tế bào; mô đệm giảm mật độ elastin và collagen. Hoạt động của tuyến Bartholin và tuyến Skene suy giảm, làm giảm tiết dịch bôi trơn tự nhiên gây nên hiện tượng teo âm hộ và khô niêm mạc là đặc điểm thường gặp ở phụ nữ sau mãn kinh [12], [23].

1.2.1.2. Thay đổi tại âm đạo

Âm đạo là cơ quan chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất của tình trạng thiếu hụt estrogen.

  • Thay đổi đại thể

Thành âm đạo mỏng, nhẵn do giảm các nếp gấp ngang. Lòng âm đạo có thể hẹp và ngắn hơn. Niêm mạc nhợt màu, giảm độ đàn hồi và dễ chảy máu khi thăm khám.

  • Thay đổi mô học và sinh lý

Thiếu estrogen làm giảm tăng sinh biểu mô lát tầng không sừng hóa của âm đạo, dẫn đến giảm glycogen nội bào. Sự suy giảm glycogen làm giảm hoạt động của hệ vi khuẩn Lactobacillus, tăng pH âm đạo (>5), tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn gây bệnh phát triển [12], [23].

Theo các nghiên cứu tại Việt Nam, tỷ lệ phụ nữ sau mãn kinh có biểu hiện teo âm đạo dao động từ 40 – 70%, với các triệu chứng chủ yếu gồm khô âm đạo, ngứa rát và đau khi giao hợp [14], [18]. Những thay đổi này hiện được xếp trong hội chứng tiết niệu – sinh dục thời kỳ mãn kinh.

1.2.1.3. Thay đổi tại cổ tử cung và tử cung

- Cổ tử cung

Sau mãn kinh, cổ tử cung nhỏ lại do xơ hóa mô đệm. Hoạt động của các tuyến nội cổ tử cung giảm, làm giảm tiết nhầy. Vùng chuyển tiếp biểu mô có xu hướng dịch chuyển sâu vào ống cổ tử cung, điều này có ý nghĩa trong thực hành tầm soát ung thư cổ tử cung ở phụ nữ lớn tuổi [1], [12], [23].

Tình trạng hẹp lỗ cổ tử cung và teo biểu mô sau mãn kinh, gây khó khăn cho việc lấy bệnh phẩm tế bào học.

  • Tử cung

Tử cung giảm kích thước và trọng lượng do teo cơ tử cung. Mô cơ trơn giảm, trong khi tỷ lệ sợi collagen tăng tương đối. Nội mạc tử cung mỏng, giảm đáp ứng với kích thích nội tiết; trên siêu âm, độ dày nội mạc thường < 4mm ở phụ nữ không dùng liệu pháp nội tiết [12], [23].

Tại Việt Nam, các hướng dẫn chuyên môn và tài liệu đào tạo chuyên ngành về xử trí xuất huyết tử cung bất thường sau mãn kinh đều nhấn mạnh vai trò của siêu âm đánh giá độ dày nội mạc tử cung nhằm loại trừ ác tính [1], [8], [12], [23].

1.2.1.4. Thay đổi tại buồng trứng

Buồng trứng sau mãn kinh giảm thể tích đáng kể do mất nang noãn chức năng. Mô đệm xơ hóa, số lượng nang nguyên thủy giảm gần như hoàn toàn. Nồng độ estrogen và progesterone giảm sâu, chỉ còn một lượng nhỏ androgen từ mô đệm buồng trứng và tuyến thượng thận [12], [23].

1.2.1.5. Thay đổi hệ thống nâng đỡ và sàn chậu

Sự suy giảm estrogen kết hợp với lão hóa mô liên kết làm giảm tổng hợp collagen, giảm độ đàn hồi của dây chằng nâng đỡ tử cung và thành âm đạo [12], [23]. Trương lực cơ sàn chậu suy giảm, góp phần làm tăng nguy cơ sa tạng chậu và són tiểu khi gắng sức.

1.2.1.6. Hội chứng tiết niệu – sinh dục thời kỳ mãn kinh

Hội chứng tiết niệu - sinh dục ở phụ nữ mãn kinh là thuật ngữ mới cho chứng teo âm hộ-âm đạo. Các triệu chứng thiếu hụt estrogen ở đường tiết niệu sinh dục gây khó chịu cho hơn 50% phụ nữ, ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống, hoạt động xã hội và đời sống tình dục. Hội chứng tiết niệu – sinh dục thời kỳ mãn kinh (GSM) là một hội chứng mãn tính và tiến triển, thường được chẩn đoán và điều trị chưa đầy đủ [26]. Tại Việt Nam, khái niệm hội chứng tiết niệu – sinh dục thời kỳ mãn kinh đã được cập nhật trong các tài liệu đào tạo liên tục và hướng dẫn chuyên môn về chăm sóc sức khỏe phụ nữ trung niên [1], [12], [23].

1.2.2. Thay đổi nội tiết trong tiền mãn kinh và mãn kinh:

1.2.2.1. Thay đổi nội tiết thời kỳ tiền mãn kinh

Cơ chế suy giảm chức năng buồng trứng.

Tiền mãn kinh bắt đầu khi dự trữ nang noãn ở buồng trứng giảm đáng kể theo tuổi. Giảm dự trữ nang làm giảm sản xuất inhibin B — một hormone quan trọng điều hòa ngược tuyến yên — dẫn đến tăng bài tiết FSH. Đây là dấu hiệu sinh hóa sớm báo hiệu tiến trình lão hóa buồng trứng [12], [23].

Biến động hormone sinh dục trong tiền mãn kinh:

FSH và LH: Nồng độ FSH có xu hướng tăng từng đợt và dao động theo chu kỳ, còn LH tăng ít rõ rệt hơn. FSH thường là chỉ điểm nhạy để đánh giá suy giảm dự trữ buồng trứng.

Estradiol (E2): Ban đầu estradiol có thể dao động hoặc bình thường, nhưng theo thời gian có xu hướng giảm, nhất là trong chu kỳ không phóng noãn.

Progesterone: Giảm sớm do rối loạn hoàng thể sau phóng noãn, gây bất thường chu kỳ và rối loạn kinh nguyệt.

Chỉ điểm sinh hóa trong chẩn đoán tiền mãn kinh:

Anti-Müllerian Hormone (AMH): AMH giảm dần theo tuổi và phản ánh dự trữ nang noãn. Nhiều nghiên cứu cho thấy AMH là chỉ điểm tin cậy hơn FSH trong đánh giá dự trữ buồng trứng và giai đoạn chuyển tiếp tiền mãn kinh.

FSH: Tăng không liên tục nhưng thường xuất hiện trước khi estradiol giảm rõ rệt [12], [23].

1.2.2.2. Thay đổi nội tiết thời kỳ mãn kinh

Mất sản xuất estrogen từ buồng trứng.

Sau mãn kinh, buồng trứng gần như không còn nang noãn chức năng; sản xuất estrogen hầu như ngừng. Nồng độ estradiol huyết thanh giảm xuống rất thấp và ổn định, trong khi estrone — chuyển hóa từ androgen ngoại vi — trở thành dạng estrogen chính lưu hành [12], [23].

Tăng FSH và LH ổn định

Sự mất điều hòa ngược âm tính của estrogen và inhibin làm cho:

FSH tăng lên rõ rệt và duy trì mức cao (thường > 40 mIU/mL).

LH cũng tăng nhưng yếu tố chính được sử dụng trong lâm sàng là FSH kết hợp với lâm sàng vô kinh ≥ 12 tháng để xác định mãn kinh.

Giảm inhibin và AMH. Inhibin A và B giảm tới mức không phát hiện được sau mãn kinh, phản ánh sự mất hoàn toàn nang noãn. AMH thường không định lượng được, là dấu ấn khẳng định hết dự trữ buồng trứng, tương ứng thời kỳ mãn kinh [27] [28].

Hệ quả sinh học toàn thân. Thiếu hụt estrogen kéo dài ảnh hưởng đến nhiều hệ cơ quan.

Hệ sinh dục – tiết niệu: teo niêm mạc âm đạo, giảm tiết dịch, hội chứng tiết niệu – sinh dục.

Hệ xương: mất cân bằng tạo xương – hủy xương → tăng nguy cơ loãng xương.

Hệ tim mạch: rối loạn lipid máu (tăng LDL, giảm HDL).

Hệ thần kinh trung ương: tăng cơn bốc hỏa, rối loạn giấc ngủ [5], [9], [49].

1.3. CÁC RỐI LOẠN THƯỜNG GẶP Ở PHỤ NỮ TIỀN MÃN KINH VÀ MÃN KINH

1.3.1. Các rối loạn thường gặp ở phụ nữ tiền mãn kinh

Giai đoạn tiền mãn kinh đặc trưng bởi tình trạng suy giảm dự trữ buồng trứng nhưng còn hoạt động nội tiết dao động mạnh, gây nên các biểu hiện không ổn định và đa dạng.

1.3.1.1. Rối loạn kinh nguyệt

Rối loạn kinh nguyệt là biểu hiện sớm và thường gặp nhất.

Biểu hiện bao gồm:

Chu kỳ ngắn dần (< 21 ngày) hoặc dài > 35 ngày.

Rong kinh, cường kinh,

Kinh thưa, vô kinh tạm thời.

Cơ chế liên quan đến rối loạn phóng noãn và mất cân bằng estrogen – progesterone. Giai đoạn đầu thường có tình trạng cường estrogen tương đối do chu kỳ không phóng noãn, dẫn đến tăng sinh nội mạc tử cung và rong kinh [1], [12], [23].

1.3.1.2. Rối loạn vận mạch sớm

Cơn bốc hỏa có thể xuất hiện ngay từ giai đoạn tiền mãn kinh do dao động estrogen.

Mức độ thường nhẹ và không liên tục [1], [12], [23].

1.3.1.3. Rối loạn tâm thần kinh

Dao động estrogen ảnh hưởng đến hệ serotonin và norepinephrine trung ương, gây ra các triệu chứng:

Dễ cáu gắt.

Lo âu.

Giảm tập trung [1], [12], [23].

1.3.1.4. Rối loạn giấc ngủ

Mất ngủ, có hoặc không kèm bốc hỏa, gặp ở 1/3 đến 1/2  các trường hợp quanh mãn kinh [12].

1.3.1.5. Rối loạn chức năng tình dục

Trong tiền mãn kinh, giảm ham muốn có thể xuất hiện do các nguyên nhân:

Dao động nội tiết.

Stress tâm lý – xã hội.

Khô âm đạo mức độ nhẹ [1], [12], [23].

1.3.2. Các rối loạn thường gặp ở phụ nữ mãn kinh

Mãn kinh đặc trưng bởi suy giảm estrogen kéo dài và tăng FSH, LH ổn định, dẫn đến các rối loạn có tính mạn tính và hệ thống. Các rối loạn vận mạch, tâm thần kinh, niệu dục, chuyển hóa và loãng xương được ghi nhận với tỷ lệ cao [7], [16], [17], [19], [31].

1.3.2.1. Rối loạn vận mạch

Bốc hỏa là triệu chứng phổ biến thứ 2 ở phụ nữ quanh và sau mãn kinh.

Cơ chế liên quan đến rối loạn trung tâm điều hòa thân nhiệt vùng hạ đồi do thiếu hụt estrogen [12], [23].

1.3.2.2. Hội chứng tiết niệu – sinh dục thời kỳ mãn kinh

Hội chứng tiết niệu – sinh dục thời kỳ mãn kinh (GSM) bao gồm các triệu chứng sinh dục và tiết niệu do thiếu hụt estrogen mạn tính [26]. Bao gồm các dấu hiệu như:

Khô âm đạo.

Đau khi giao hợp.

Tiểu gấp, tiểu nhiều lần.

Nhiễm khuẩn tiết niệu tái phát.

Cơ chế sinh lý bệnh gồm teo biểu mô âm đạo, giảm glycogen, tăng pH, giảm collagen mô liên kết.

Tỷ lệ GSM tăng dần theo thời gian sau mãn kinh và có thể kéo dài nhiều năm nếu không điều trị.

1.3.2.3. Rối loạn chức năng tình dục

Là than phiền phổ biến ở phụ nữ mãn kinh. Mất ham muốn tình dục do thiếu sản xuất testosterone và estrogen từ buồng trứng. Đau khi giao hợp xảy ra do teo niêm mạc âm đạo [12], [23], [32].

1.3.2.4. Rối loạn chuyển hóa và tim mạch

Tỷ lệ mắc bệnh tim mạch tăng ở phụ nữ sau tuổi 50, đặc biệt ở những phụ nữ đã cắt bỏ buồng trứng trong giai đoạn sinh sản. Đây là nguyên nhân gây ra số ca tử vong lớn nhất ở phụ nữ mãn kinh.

Sự hiện diện estrogen nội sinh giúp bảo vệ chống lại nguy cơ bệnh tim mạch ở phụ nữ tiền mãn kinh. Tuy nhiên, khi dùng estrogen ngoại sinh cho phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh, nó có thể làm tăng nguy cơ biến cố tim mạch ở phụ nữ đang mắc bệnh lý tim mạch [12], [23].

1.3.2.5. Loãng xương và rối loạn cơ xương khớp

Mật độ xương bị phá hủy dẫn đến tăng nguy cơ gãy xương. Loãng xương có thể là một tình trạng bệnh nguyên phát, do thiếu hụt estrogen hay lão hóa, hoặc có thể là thứ phát sau các bệnh lý hoặc thuốc khác ảnh hưởng đến chuyển hóa canxi và xương [12], [20], [23].

1.3.2.6. Rối loạn nhận thức

Bệnh Alzheimer là bệnh lý thoái hóa thần kinh phổ biến nhất ở người cao tuổi tăng dần theo thời gian. Mất trí nhớ và sự tập trung ở phụ nữ cao gần gấp đôi nam giới [11].

Biểu hiện gồm có: mất trí nhớ, nhầm lẫn, khó suy nghĩ, thay đổi ngôn ngữ, hành vi và tính cách. Nguyên nhân do sự mất chức năng và chết của các tế bào thần kinh ở một số khu vực não dẫn tới mất chức năng nhận thức như trí nhớ và ngôn ngữ. Diễn biến bệnh từ nhẹ tới nặng, cuối cùng họ không thể chăm sóc được bản thân, cần sự chăm sóc toàn diện của người thân và là gánh nặng của xã hội [1].

Một số phụ nữ than phiền giảm trí nhớ ngắn hạn và giảm khả năng tập trung. Dù chưa đủ tiêu chuẩn sa sút trí tuệ, nhưng thay đổi này liên quan đến suy giảm estrogen và lão hóa não bộ [13].

1.4. CHĂM SÓC CẢI THIỆN TRIỆU CHỨNG VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA PHỤ NỮ TIỀN MÃN KINH VÀ MÃN KINH

Tư vấn, dinh dưỡng, vận động và liệu pháp nội tiết là các biện pháp chính theo hướng dẫn ACOG 2023 và NAMS 2022 [11], [24], [27].

1.4.1. Tư vấn sức khỏe

Tư vấn sức khỏe cho phụ nữ mãn kinh nhằm giúp người phụ nữ nhận biết và sẵn sàng cho những thay đổi sinh lý của cơ thể mình trong giai đoạn này, thay đổi lối sống và thói quen tích cực, khuyến khích tầm soát các bệnh lý thường gặp, hiểu rõ lợi ích và nguy cơ của liệu pháp điều trị nội tiết giai đoạn mãn kinh góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người phụ nữ [1].

Những nội dung chính cần tư vấn

- Hiểu biết các giai đoạn trong thời kỳ mãn kinh: mãn kinh được xác định khi ngưng hành kinh liên tiếp 12 tháng. Tiền mãn kinh là khoảng thời gian từ lúc bắt đầu hiện tượng rối loạn chu kỳ kinh nguyệt cho đến kỳ kinh nguyệt cuối cùng, giai đoạn này kéo dài khoảng 2 - 5 năm trước khi mãn kinh thật sự. Tuổi mãn kinh trung bình của phụ nữ Việt Nam là 48 - 50 tuổi.

- Nhận biết các triệu chứng của giai đoạn tiền mãn kinh: bốc hỏa, vã mồ hôi đêm, mất ngủ, rối loạn lo âu, cáu gắt, trầm cảm, suy giảm trí nhớ, đau cơ khớp, loãng xương, da nhăn khô, rụng tóc, hồi hộp, tức ngực, giảm ham muốn, khô teo âm đạo, són tiểu, tiểu gấp, tiểu nhiều lần, ...

- Phân biệt được những rối loạn kinh nguyệt do tuổi tiền mãn kinh hay xuất huyết tử cung bất thường cần phải đi khám (VD: chu kỳ ngắn < 3 tuần; cường kinh hay băng kinh, hay xuất huyết sau ngưng kinh 12 tháng)

- Tư vấn sàng lọc và dự phòng những bệnh lý thường gặp: sàng lọc các bệnh lý ung thư phụ khoa, loãng xương, rối loạn chuyển hóa lipid, bệnh đái tháo đường, bệnh lý tim mạch, chuyển khám chuyên khoa phù hợp.

- Tư vấn ngừa thai: vẫn nên ngừa thai khi ngừng kinh nguyệt chưa đủ 12 tháng, nếu phương pháp ngừa thai đang dùng là nội tiết, nên dùng cho đến tuổi trung bình mãn kinh hoặc khi đến hạn của dụng cụ (VD: Mirena hay Imlpanon)

- Tư vấn điều trị sau khi thông tin cho người bệnh tất cả các vấn đề xảy ra khi mãn kinh, giới thiệu các liệu pháp điều trị khi có triệu chứng hay mục đích và mong muốn của người bệnh (phương pháp vật lý, thay đổi lối sống, các thực phẩm hỗ trợ, hay liệu pháp nội tiết mãn kinh)

- Đối với liệu pháp nội tiết mãn kinh, nhân viên y tế phải thông tin tất cả những nguy cơ và lợi ích khi sử dụng. Lưu ý với người bệnh phải được đánh giá và theo dõi bởi bác sĩ chuyên khoa và kinh nghiệm trong trường hợp người bệnh có chỉ định và quyết định lựa chọn [11].

1.4.2. Dinh dưỡng, vận động và tinh thần

- Luyện tập thường xuyên: tập thể dục mỗi ngày, chế độ ăn uống - nghỉ ngơi điều độ, giúp cải thiện sức khỏe, tinh thần thoải mái, tăng sức dẻo dai, cân bằng của cơ thể, phòng ngừa té ngã, duy trì cân nặng hợp lý.

- Chăm sóc sức khỏe tinh thần thời kỳ mãn kinh: học cách thư giãn khi gặp căng thẳng (kết hợp hít sâu, thở chậm, thả lỏng cơ bắp, thiền, yoga, châm cứu), khuyến khích khách hàng chia sẻ khó khăn với người thân, tham gia các hoạt động văn hóa trong cộng đồng.

- Nên ở những môi trường thông thoáng, mặc quần áo nhẹ nhàng, điều chỉnh nhiệt độ phòng phù hợp.

- Dinh dưỡng thích hợp: ngưng hút thuốc lá, tránh rượu bia, caffein, thực hiện chế độ ăn giàu thực vật, chất xơ, giảm đường, muối, chất béo, bổ sung khẩu phần giàu canxi và vitamin D để phòng ngừa loãng xương, gãy xương [1].

1.4.3. Các liệu pháp điều trị

1.4.3.1. Liệu pháp không nội tiết

- Tình dục trong giai đoạn tiền mãn kinh, mãn kinh: thường giảm ham muốn tình dục do quan hệ đau rát, các sản phẩm dưỡng ẩm, bôi trơn âm đạo có thể giúp ích trong giai đoạn tiền mãn kinh và đầu giai đoạn mãn kinh.

- Các liệu pháp hỗ trợ không nội tiết: Các loại thực phẩm chức năng như phytoestrogens,... có hiệu quả trong hỗ trợ điều trị các triệu chứng nhẹ và trung bình (bốc hỏa, mất ngủ, khô âm đạo...) [1].

1.4.3.2. Liệu pháp nội tiết mãn kinh

- Sử dụng nội tiết mãn kinh phải theo chỉ định của bác sĩ, sau khi đã khám và đánh giá các yếu tố nguy cơ của khách hàng. Thời điểm bắt đầu dùng nội tiết phù hợp là dưới 60 tuổi, thời gian mãn kinh dưới 10 năm.

- Lợi ích và nguy cơ của sử dụng nội tiết thời kỳ mãn kinh: nội tiết mãn kinh cải thiện hiệu quả triệu chứng bốc hỏa, khô teo âm đạo, giảm nguy cơ loãng xương, gãy xương sau mãn kinh, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người phụ nữ. Tuy nhiên, sử dụng nội tiết mãn kinh có thể làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch, nguy cơ ung thư vú (tùy loại nội tiết được sử dụng), do đó khách hàng cần theo dõi định kỳ bởi bác sĩ chuyên môn có kinh nghiệm [1].

1.4.3.3. Các trường hợp đặc biệt

- Mãn kinh sớm, suy buồng trứng sớm cần bổ sung nội tiết cho đến tuổi mãn kinh trung bình sau đó xem xét áp dụng điều trị tiếp đối với từng trường hợp cụ thể. Trong trường hợp khách hàng muốn có con thì cần được tư vấn thêm về hiếm muộn cho cả vợ và chồng.

- Mãn kinh sau phẫu thuật cắt 2 buồng trứng (do bệnh lành tính): trường hợp dưới 45 tuổi có thể sử dụng nội tiết thay thế nếu không có chống chỉ định.

- Mãn kinh ở phụ nữ có tiền sử ung thư vú, ung thư nội mạc tử cung: không sử dụng nội tiết thay thế, nếu có triệu chứng gây khó chịu có thể sử dụng các loại thuốc hỗ trợ không chứa nội tiết [1].

1.5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

1.5.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Các nghiên cứu quốc tế cho thấy giai đoạn chuyển tiếp mãn kinh thường bắt đầu từ 45 – 55 tuổi và đi kèm nhiều biến đổi nội tiết, đặc biệt là suy giảm estrogen và tăng FSH, gây nên hàng loạt triệu chứng vận mạch, tâm lý – thần kinh và tiết niệu – sinh dục [13], [33]. Nghiên cứu dọc quy mô lớn SWAN (Study of Women’s Health Across the Nation) ghi nhận tỷ lệ bốc hỏa và vã mồ hôi đêm dao động 60 – 80% tùy chủng tộc và giai đoạn sinh dục [34]. Các triệu chứng tâm lý như lo âu, trầm cảm và rối loạn giấc ngủ cũng gia tăng rõ rệt trong thời kỳ tiền mãn kinh so với trước mãn kinh [35].

Về đánh giá triệu chứng, nhiều thang điểm đã được sử dụng rộng rãi như Menopause Rating Scale (MRS), Greene Climacteric Scale và MENQOL (Menopause-Specific Quality of Life Questionnaire), UQOL (Utian Quality of Life Scale). Các công cụ này cho phép lượng hóa mức độ nặng của triệu chứng và tác động của chúng đến chất lượng cuộc sống [10], [14], [29], [36], [37].

Nhiều nghiên cứu khẳng định hội chứng tiền mãn kinh và mãn kinh có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống. Phụ nữ có triệu chứng mức độ vừa và nặng có nguy cơ suy giảm chất lượng cuộc sống cao gấp 2 – 3 lần so với nhóm không triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ [30], [36]. Các yếu tố liên quan bao gồm tuổi, tình trạng kinh tế  – xã hội, BMI, bệnh mạn tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn và mức độ hoạt động thể lực [34]. Như vậy, xu hướng nghiên cứu quốc tế không chỉ dừng lại ở mô tả triệu chứng mà còn tập trung vào mối liên quan giữa mức độ triệu chứng và các yếu tố cá nhân – xã hội.

1.5.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, trong khoảng hai thập niên gần đây, các nghiên cứu về tiền mãn kinh và mãn kinh ngày càng được quan tâm, tập trung vào đặc điểm lâm sàng, biến đổi nội tiết, rối loạn chức năng và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Tuổi mãn kinh trung bình của phụ nữ Việt Nam dao động khoảng 48 – 50 tuổi, thấp hơn một số quốc gia phương Tây, với phần lớn phụ nữ bước vào giai đoạn chuyển tiếp mãn kinh trong khoảng 45 – 55 tuổi [8].

Các nghiên cứu cắt ngang tại nhiều địa phương ghi nhận tỷ lệ phụ nữ 45 – 60 tuổi có ít nhất một triệu chứng mãn kinh thường trên 70%, trong đó các rối loạn vận mạch (bốc hỏa, vã mồ hôi đêm), rối loạn tâm sinh lý (mất ngủ, lo âu, giảm tập trung) và rối loạn niệu – sinh dục chiếm tỷ lệ cao [15]. Khi sử dụng các thang điểm chuẩn hóa như MRS hoặc MENQOL, phần lớn phụ nữ có mức độ triệu chứng nhẹ đến trung bình; tuy nhiên khoảng 20 – 30% có triệu chứng mức độ trung bình – nặng, ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt và lao động hằng ngày [16].

Tại khu vực miền Trung, đặc biệt là thành phố Huế, đã có một số nghiên cứu chuyên sâu góp phần cung cấp bằng chứng địa phương. Nghiên cứu của Nguyễn Đình Phương Thảo (2017) tại thành phố Huế cho thấy tỷ lệ rối loạn chức năng ở phụ nữ mãn kinh khá cao, bao gồm rối loạn vận mạch, rối loạn tâm sinh lý, rối loạn niệu dục và suy giảm chức năng tình dục; đồng thời ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa giữa nồng độ estradiol huyết thanh và mức độ biểu hiện triệu chứng [14]. Công trình này không chỉ mô tả đặc điểm lâm sàng mà còn đánh giá hiệu quả của một số biện pháp điều trị nội tiết và không nội tiết, qua đó khẳng định tác động rõ rệt của hội chứng mãn kinh đối với chất lượng sống của phụ nữ địa phương. Năm 2023, tác giả Nguyễn Đình Phương Thảo và cộng sự tiếp tục nghiên cứu vấn đề tuổi mãn kinh và mối liên quan với các  yếu tố kinh tế xã hội ở phụ nữ mãn kinh đến khám tại Bệnh viện Phụ sản – nhi Đà Nẵng [17].

Liên quan đến vấn đề chất lượng giấc ngủ của phụ nữ mãn kinh, tác giả Nguyễn Thị Hoàng Vân và cộng sự đã nghiên cứu chất lượng giấc ngủ và các yếu tố liên quan ở những phụ nữ mãn kinh đến khám tại bệnh viện Đồng Nai 2 [19]; tác giả Trần Thiện Thành và cộng sự cũng tiến hành nghiên cứu rối loạn giấc ngủ ở phụ nữ trong độ tuổi tiền mãn kinh - mãn kinh theo thang điểm Pittsburgh tại bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế [38].

Gần đây hơn, nghiên cứu của Lê Phước Bình Tùng (2025) trên phụ nữ mãn kinh tại Huế đã phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng loãng xương, cho thấy mối liên quan giữa thời gian mãn kinh, mức độ triệu chứng và giảm mật độ khoáng xương [18]. Kết quả này củng cố bằng chứng rằng các rối loạn thời kỳ mãn kinh không chỉ dừng lại ở biểu hiện triệu chứng chủ quan mà còn liên quan đến những thay đổi thực thể và nguy cơ bệnh lý mạn tính lâu dài [39].

Như vậy, mặc dù đã có các nghiên cứu tại Huế và một số địa phương khác, song phần lớn tập trung vào phụ nữ đã mãn kinh hoặc đánh giá từng nhóm rối loạn riêng lẻ. Chưa có nhiều nghiên cứu đồng thời khảo sát cả phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh, sử dụng thang điểm chuẩn hóa để lượng hóa mức độ triệu chứng, đồng thời phân tích mức độ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan trong cùng một thiết kế nghiên cứu cộng đồng.

Do đó, việc triển khai nghiên cứu tại thành phố Huế với mục tiêu xác định tỷ lệ hiện mắc, mô tả đặc điểm lâm sàng theo thang điểm và đánh giá mức độ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống có ý nghĩa kế thừa và phát triển từ các công trình trước đây, đồng thời bổ sung bằng chứng khoa học có tính hệ thống và cập nhật cho công tác chăm sóc sức khỏe phụ nữ trung niên tại địa phương.

1.5.3. Khoảng trống nghiên cứu

Tổng quan tài liệu cho thấy: (1) Hội chứng tiền mãn kinh và mãn kinh có tỷ lệ hiện mắc cao và ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống; (2) Mức độ triệu chứng có liên quan đến nhiều yếu tố nhân khẩu học và bệnh lý; (3) Tại Việt Nam, dữ liệu địa phương hóa theo từng vùng sinh thái – văn hóa còn hạn chế.

Do đó, việc thực hiện nghiên cứu “Nghiên cứu đặc điểm hội chứng tiền mãn kinh - mãn kinh  và chất lượng cuộc sống ở phụ nữ tại thành phố Huế” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần bổ sung bằng chứng địa phương, làm cơ sở xây dựng các chương trình can thiệp và chăm sóc sức khỏe phù hợp cho phụ nữ trung niên.

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu gồm các phụ nữ trong độ tuổi từ 45 tuổi đến 65 tuổi, đang cư trú tại thành phố Huế.

2.1.1. Cỡ mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu được ước tính dựa trên công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ trong quần thể [31]:

Trong đó:

  • n: Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết.
  • Z: Hệ số tin cậy. Với độ tin cậy 95%, Z21-α/2 =1.96
  • d: Sai số tuyệt đối mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ của quần thể. Nghiên cứu chọn d=0.05.
  • p: Tỷ lệ hiện mắc hội chứng tiền mãn kinh và mãn kinh. Để đảm bảo tính đại diện cao nhất, nghiên cứu sẽ tham khảo tỷ lệ nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đình Phương Thảo tại thành phố Huế là p = 0,577 (tỷ lệ phụ nữ có triệu chứng khô âm đạo - triệu chứng điển hình) [14]. Làm tròn số, cỡ mẫu tối thiểu là 191 đối tượng.

Do nghiên cứu áp dụng thiết kế lấy mẫu cụm, cỡ mẫu được hiệu chỉnh thêm hệ số ảnh hưởng của thiết kế (design effect – Deff = 2,0). Cỡ mẫu sau khi nhân hệ số ảnh hưởng của thiết kế:

Để phòng ngừa các trường hợp bỏ cuộc hoặc bộ câu hỏi không hoàn chỉnh, nghiên cứu cộng thêm 20% vào cỡ mẫu dự phòng.

  • Vậy, cỡ mẫu cuối cùng cần thu thập cho nghiên cứu là 460 đối tượng.

2.1.2. Tiêu chuẩn chọn mẫu

2.1.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn

Phụ nữ được đưa vào nghiên cứu khi thỏa mãn tất cả các tiêu chí sau:

  • Tuổi từ 45 đến 65 tuổi (tính theo tuổi dương lịch).
  • Cư trú liên tục tại thành phố Huế từ 12 tháng trở lên.
  • Tình trạng sinh sản: đang trong giai đoạn tiền mãn kinh hoặc mãn kinh tự nhiên theo tiêu chí STRAW+10:
  • Tiền mãn kinh: Chu kỳ kinh nguyệt thay đổi ≥ 7 ngày so với chu kỳ trước, hoặc khoảng cách ≥ 60 ngày không có kinh nguyệt.
  • Hoặc mãn kinh tự nhiên: không có kinh nguyệt ≥ 12 tháng liên tục.
  • Có khả năng đọc, hiểu và trả lời đầy đủ bảng câu hỏi (không bị rối loạn nhận thức nặng).
  • Đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.1.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ

Phụ nữ sẽ bị loại khỏi nghiên cứu nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Những phụ nữ đã phẫu thuật cắt tử cung (toàn phần hoặc bán phần) hoặc cắt buồng trứng (một bên hoặc hai bên), có hoặc không kèm cắt vòi trứng, dẫn đến mãn kinh nhân tạo.
  • Đang mang thai hoặc đang cho con bú.
  • Đang sử dụng hoặc đã sử dụng liệu pháp hormone thay thế (HRT), thuốc bổ sung estrogen, progesterone, testosterone, hoặc các thuốc ảnh hưởng đến triệu chứng mãn kinh (ví dụ: các thuốc dùng để điều trị triệu chứng vận mạch) trong vòng 6 tháng gần nhất.
  • Có bệnh lý nặng hoặc mạn tính ảnh hưởng độc lập đến chất lượng cuộc sống, bao gồm:
  • Ung thư đang điều trị hoặc trong vòng 5 năm gần nhất.
  • Suy tim độ III-IV, suy thận mạn giai đoạn 4-5, suy gan nặng.
  • Rối loạn tâm thần nặng (trầm cảm nặng, rối loạn lưỡng cực, tâm thần phân liệt đang tiến triển).
  • Có rối loạn nhận thức rõ rệt (điểm MMSE < 24) hoặc không hợp tác trả lời bảng câu hỏi.
  • Không cư trú thực tế tại thành phố Huế (chỉ về thăm hoặc tạm trú ngắn hạn < 12 tháng).

2.1.3. Phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu sẽ áp dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn để đảm bảo tính ngẫu nhiên và khả thi tại thực địa:

Giai đoạn 1: Chọn cụm (phường/xã)

  • Lập danh sách tất cả 40 phường/xã thuộc thành phố Huế theo Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15 năm 2025 quy định về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Huế.
  • Dựa trên danh sách này, áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, bước nhảy k = 40/5 = 8 để chọn ra 5 cụm (phường/xã) sẽ được khảo sát. Bắt đầu chọn ngẫu nhiên từ phường Kim Long. Các phường/xã lần lượt được chọn: phường Kim Long, phường An Cựu, xã Phú Vinh, xã Long Quảng, phường Dương Nổ.

Giai đoạn 2: Chọn đối tượng trong cụm

  • Tại mỗi phường/xã được chọn, nghiên cứu viên sẽ phối hợp với cán bộ y tế thôn bản hoặc cán bộ dân số để lập danh sách tất cả phụ nữ từ 45 – 65 tuổi đang cư trú tại đây.
  • Dựa trên danh sách này, áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên để chọn ra các đối tượng cụ thể tham gia nghiên cứu cho đến khi đủ số lượng phân bổ cho từng cụm. Tổng mẫu 460/5 cụm phường/xã. Như vậy, mỗi cụm phường/xã có  92 mẫu.

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

2.2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.2.1. Thời gian nghiên cứu

Thời gian dự kiến: từ tháng 3/2026 đến hết tháng 11/2027.

Giai đoạn thu thập số liệu: Dự kiến 12 tháng (từ tháng 4/2026 đến hết tháng 4/2027), có thể kết thúc sớm nếu thu thập đủ mẫu.

2.2.2.2. Địa điểm nghiên cứu

  • Nghiên cứu sẽ được tiến hành tại 05 phường/xã thuộc thành phố Huế. Cụ thể: phường Kim Long, phường An Cựu, xã Phú Vinh, xã Long Quảng, phường Dương Nổ.

2.2.3. Các biến số nghiên cứu

2.2.3.1. Biến số phụ thuộc

- Tình trạng tiền mãn kinh - mãn kinh

  • Tỷ lệ hiện mắc: Tỷ lệ phụ nữ có ít nhất một triệu chứng thuộc thang điểm MRS.
  • Điểm số các nhóm triệu chứng (thang điểm MRS):

Nhóm triệu chứng tâm lý: Tổng điểm của 4 triệu chứng (trầm cảm, dễ kích thích, lo âu, mệt mỏi).

Nhóm triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật: Tổng điểm của 4 triệu chứng (bốc hỏa, khó chịu tim, rối loạn giấc ngủ, đau cơ khớp).

Nhóm triệu chứng niệu dục: Tổng điểm của 3 triệu chứng (rối loạn tình dục, rối loạn tiết niệu, khô âm đạo).

- Mức độ ảnh hưởng (mức độ nặng): Phân loại rất thấp, thấp, trung bình, cao, rất cao dựa trên tổng điểm từng nhóm.

+ Chất lượng sống về công việc.

+ Chất lượng sống về sức khỏe.

+ Chất lượng sống về tinh thần.

+ Chất lượng sống về tình dục.

- Đặc điểm lâm sàng phụ khoa

Đặc điểm cổ tử cung: Phì đại, teo nhỏ, viêm, polyp hoặc u sùi.

Kết quả xét nghiệm sàng lọc: VIA và VILI (âm tính, nghi ngờ, dương tính).

2.2.3.2. Biến số độc lập

Các biến số này dùng để tìm hiểu mối liên quan với mức độ nặng của hội chứng.

- Nhóm đặc điểm nhân khẩu học và thể chất

Tuổi: Nhóm 1: 45 - 49tuổi; Nhóm 2:  50 – 54 tuổi; Nhóm 3:  55 - 59 tuổi; Nhóm 4: 60 – 65 tuổi

Địa dư: Thành thị, nông thôn, miền núi/vùng biển.

Nghề nghiệp: Cán bộ, nông dân, công nhân, kinh doanh, nội trợ.

Chỉ số hình thể: Cân nặng, chiều cao (để tính BMI).

Tình trạng hôn nhân: độc thân, kết hôn, ly hôn, khác

- Nhóm tiền sử sản phụ khoa

Tiền sử sinh đẻ: Chỉ số PARA và phương thức sinh (sinh thường/mổ).

Tình trạng kinh nguyệt: Chu kỳ đều hay không đều.

Tình trạng mãn kinh: Đã mãn kinh hay chưa, tuổi bắt đầu mãn kinh và thời gian đã mãn kinh.

Bệnh lý phụ khoa: Tiền sử viêm nhiễm, khối u vùng chậu.

Biện pháp tránh thai: Các phương pháp đang hoặc đã sử dụng.

- Nhóm tiền sử bệnh lý nội ngoại khoa

Bệnh mạn tính đi kèm: Tăng huyết áp, đái tháo đường, cường giáp, bệnh cơ xương khớp hoặc tiền sử phẫu thuật vùng chậu.

- Nhóm lối sống và can thiệp hỗ trợ

Chế độ dinh dưỡng: Ăn uống đầy đủ, lượng nước uống hàng ngày.

Vận động: Thói quen tập thể dục và thời gian tập luyện trung bình mỗi ngày.

Bổ sung vi chất: Canxi, Vitamin D, C, B.

Thói quen có hại: Sử dụng đồ uống có cồn và đồ uống có đường.

Sử dụng hỗ trợ: Thực phẩm chức năng chứa Isoflavon hoặc liệu pháp nội tiết thay thế (loại trừ các đối tượng đang điều trị nội tiết theo tiêu chuẩn loại trừ).

2.2.4. Công cụ nghiên cứu

2.2.4.1. Phiếu nghiên cứu

Sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn, bán cấu trúc, gồm 4 phần:

+ Ghi nhận thông tin phần hành chính:

Họ và tên.

Tuổi.

Địa dư.

Nghề nghiệp.

Cân nặng.

Chiều cao..

Tình trạng hôn nhân

+ Ghi nhận tiền sử bệnh: Thông tin về tiền sử sản khoa và việc chăm sóc sức khỏe hiện tại. Cụ thể:

PARA.

Tiền sử phương thức sinh.

Tiền sử kinh nguyệt.

Tình trạng mãn kinh.

Tiền sử bệnh phụ khoa.

Sử dụng các biện pháp tránh thai.

Tiền sử bệnh nội ngoại khoa.

Chế độ dinh dưỡng.

Uống đủ lượng nước, khoảng 2 - 2,5 lít/ ngày.

Thói quen tập thể dục.

Cung cấp đủ canxi, vitamin D, C, B (Canxi 1.000–1.200 mg, Vitamin D 600–800 IU, Vitamin C 75 mg, Vitamin nhóm B) mỗi ngày.

Sử dụng đồ uống có cồn và có đường.

Sử dụng thực phẩm chức năng có chứa isoflavon..

Sử dụng liệu pháp nội tiết thay thế

+ Thăm khám lâm sàng: đánh giá tình trạng mãn kinh.

Chúng tôi sẽ tiến hành thăm khám lâm sàng nhằm ghi nhận các triệu chứng của mãn kinh theo thang điểm MRS . Cụ thể:

Nhóm triệu chứng tâm lý:

Tâm trạng trầm cảm (cảm giác tệ hại, buồn, dễ rơi nước mắt, thiếu sức sống, thay đổi tâm trạng).

Dễ bị kích thích (cảm giác lo lắng, căng thẳng nội tâm, cảm giác hung hăn, dễ gây sự).

Lo âu, bồn chồn (cảm giác bất an bên trong, hoang mang, hoảng sợ).

Mệt mỏi về thể chất và tinh thần (thụ động, giảm trí nhớ, giảm tập trung, hay quên).

Nhóm triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật:

Bốc hỏa, đổ mồ hôi (tình trạng ra mồ hôi).

Khó chịu ở tim (cảm thấy nhịp tim bất thường, tim đập chậm, tim đập nhanh, hồi hộp).

Rối loạn về giấc ngủ (khó khăn trong việc đi vào giấc ngủ, ngủ chập chờn không ngon giấc, thức dậy sớm…).

Những khó chịu về cơ, khớp (đau khớp, những than phiền tương tự như bệnh thấp khớp).

Nhóm triệu chứng niệu dục:

Rối loạn tình dục (thay đổi về ham muốn tình dục, hoạt động tình dục và thỏa mãn tình dục).

Rối loạn tiết niệu (đi tiểu khó, tiểu lắt nhắt, tiểu không kiểm soát).

Triệu chứng do khô âm đạo (cảm giác khô và nóng rát âm đạo, đau khi giao hợp).

Đánh giá: Sử dụng bảng đánh giá tình trạng mãn kinh. Điểm số mỗi câu hỏi là từ 0 đến 4.

Thang điểm thay đổi tâm lý (4 câu hỏi). Mức độ nhẹ ≤ 8 điểm; mức độ trung bình: 8 – 12 điểm; mức độ nặng > 12 điểm.

Thang điểm rối loạn vận mạch – thần kinh thực vật (4 câu hỏi). Mức độ nhẹ ≤ 8 điểm; mức độ trung bình: 8 – 12 điểm; mức độ nặng > 12 điểm.

Thang điểm hội chứng niệu dục (3 câu hỏi). Mức độ nhẹ ≤ 6 điểm; mức độ trung bình: 6 – 9 điểm; mức độ nặng > 9 điểm [5].

  Khám cổ tử cung và xét nghiệm cơ bản:

Thăm khám trong âm đạo bằng mỏ vịt ghi nhận các đặc điểm của cổ tử cung (CTC) như là kích thước, hình dạng; màu sắc niêm mạc; độ ẩm và dịch âm đạo; độ mỏng, dễ tổn thương và các tổn thương khác; thực hiện nghiệm pháp VIA (Acid acetic), VILLI (Lugol 5%). Nếu có tổn thương nghi ngờ, chúng tôi sẽ chuyển tuyến để tiến hành sàng lọc ung thư cổ tử cung, soi cổ tử cung và sinh thiết để làm giải phẫu bệnh nhằm loại trừ các bệnh lý ác tính. Những đối tượng này sẽ không được ghi nhận trong mẫu điều tra.

+ Đánh giá chất lượng sống theo thang điểm của UQOL (Utian Quality of Life Scale). Bộ câu hỏi này gồm có 23 câu đánh giá trong 4 lĩnh vực liên quan đến chất lượng sống gồm:

Bảy câu hỏi đánh giá chất lượng sống về công việc.

Bảy câu hỏi đánh giá chất lượng sống về sức khỏe.

Sáu câu hỏi đánh giá chất lượng sống về tinh thần.

Ba câu hỏi đánh giá chất lượng sống về tình dục.

Chất lượng sống về công việc:

Rất thấp: 13 – dưới 19, thấp: 19 – dưới 25.

Trung bình: 25.

Cao: trên 25 đến dưới 31, rất cao: từ 31 trở lên.

Chất lượng sống về sức khỏe:

Rất thấp: 11 – dưới 16, thấp: 16 – dưới 21.

Trung bình: 21.

Cao: trên 21 đến dưới 26, rất cao: từ 26 trở lên.

Chất lượng sống về tinh thần:

Rất thấp: 12 – dưới 16, thấp: 16 – dưới 20.

Trung bình: 20.

Cao: trên 20 đến dưới 24, rất cao: từ 24 trở lên 46.

Chất lượng sống về tình dục:

Rất thấp: 0 – dưới 4, thấp: 4 – dưới 8.

Trung bình: 8.

Cao: trên 8 đến dưới 12, rất cao: từ 12 trở lên

Chất lượng sống chung:

Rất thấp: 48 – dưới 61, thấp: 61 – dưới 74.

Trung bình: 74.

Cao: trên 74 đến dưới 87, rất cao: từ 87 trở lên [14].

2.2.4.2. Phòng khám phụ khoa và dụng cụ y tế

- Phòng khám phụ khoa tại Trạm y tế.

- Dụng cụ để khám phụ khoa: Bàn khám phụ khoa, đèn cổ cò, mỏ vịt, kìm cặp bông, bông thấm nước, nước muối sinh lý, găng khám âm đạo, dung dịch axit axetic 3 - 5% và dung dịch Lugol 5%.

2.2.5. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.2.5.1. Bước 1: Tiếp cận đối tượng

 Nghiên cứu viên đến các phường/xã đã chọn, tiếp cận đối tượng trong danh sách mẫu. Chọn mẫu ngẫu nhiên trong danh sách mẫu.

2.2.5.2. Bước 2: Phỏng vấn và thăm khám

Sau khi đối tượng đồng ý, tiến hành phỏng vấn và thăm khám riêng tư, trực tiếp tại Trạm y tế.

2.2.5.3. Bước 3: Xử lý, phân tích số liệu và tìm hiểu các yếu tố liên quan.

Dựa vào các đặc điểm lâm sàng và kết quả của các xét nghiệm trên, chúng tôi tiến hành phân tích, xử lý số liệu theo các phương pháp thống kê y học và tìm hiểu các mối liên quan. Từ đó rút ra các kết luận và khuyến nghị.

2.2.6. Sơ đồ nghiên cứu

Điều tra viên đến các phường/xã đã chọn, tiếp cận đối tượng trong danh sách mẫu.

Phỏng vấn và thăm khám

Xử lý, phân tích số liệu và tìm hiểu các mối liên quan

2.3. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

  Số liệu được nhập, xử lý và phân tích bằng chương trình SPSS 22.0 và Excel.

  • Biến số định danh: số lượng (n), tỷ lệ (%).
  • Biến số định lượng: trung bình (X), độ lệch chuẩn (SD), trung vị và khoảng tứ phân vị nếu phân phối không chuẩn.
  • So sánh sự khác biệt giữa các nhóm bằng test Chi - Square với mức ý nghĩa α = 0,05. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.

2.4. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

Đề cương nghiên cứu được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế phê duyệt. Đối tượng nghiên cứu được cung cấp thông tin và giải thích đầy đủ về nghiên cứu, các phương pháp thực hiện, ưu nhược điểm, chỉ định và các chống chỉ định của phương pháp VIA, VILI. Các tai biến và tác dụng phụ được dự phòng và khắc phục ở mức tốt nhất có thể.

Các số liệu thu thập của nghiên cứu chỉ sử dụng cho mục đích khoa học, các thông tin liên quan tới bệnh nhân được giữ bí mật.

Chương 3
DỰ KIẾN KẾT QUẢ

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.2. KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM CỦA HỘI CHỨNG TIỀN MÃN KINH - MÃN KINH Ở PHỤ NỮ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ

3.3. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA CÁC PHỤ NỮ TIỀN MÃN KINH – MÃN KINH TẠI THÀNH PHỐ HUẾ

3.3.1. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của hội chứng tiền mãn kinh và mãn kinh đối với chất lượng cuộc sống

3.3.2. Mối liên quan giữa mức độ nặng của hội chứng với nhóm đặc điểm nhân khẩu học và thể chất.

3.3.3. Mối liên quan giữa mức độ nặng của hội chứng với nhóm tiền sử sản phụ khoa.

3.3.4. Mối liên quan giữa mức độ nặng của hội chứng với nhóm tiền sử bệnh lý nội ngoại khoa.

3.3.5. Mối liên quan giữa mức độ nặng của hội chứng với nhóm lối sống và can thiệp hỗ trợ

Chương 4

KẾ HOẠCH THỰC HIỆN

4.1. Nguồn lực

4.1.1. Nhân lực

  • Cán bộ y tế (Bác sĩ, nữ hộ sinh) của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Huế và 5 Trạm y tế được chọn.
  • Y tế thôn bản, chuyên trách dân số.
  • Hội liên hiệp phụ nữ phường/xã.

4.1.2. Phương tiện nghiên cứu

  • Phiếu điều tra.
  • Phòng khám phụ khoa và dụng cụ hỗ trợ khám phụ khoa.

4.2. Dự kiến thời gian biểu hoạt động

PDF Download: 4 View: 4