SDH.CH Đánh giá kết quả phẫu thuật khâu sừng sau sụn chêm khớp gối qua nội soi
PDF Download: 0 View: 0

Tóm tắt

Sụn chêm là một cấu trúc sợi – sụn quan trọng của khớp gối, có vai trò thiết yếu trong phân bố tải trọng, hấp thu lực chấn động, tăng diện tích tiếp xúc khớp và góp phần duy trì sự ổn định của khớp gối. Đặc biệt, sừng sau sụn chêm giữ vai trò cơ
sinh học chủ chốt trong việc duy trì cơ chế truyền lực vòng, giúp chuyển tải lực nén dọc trục thành lực căng chu vi. Sừng sau của cả hai sụn chêm đều dễ bị tổn thương hơn sừng trước vì chúng ít di động hơn và chịu tải trọng lớn, nhất là khi đầu gối gập 90°. Khi sừng sau bị tổn thương, đặc biệt là rách tại vị trí rễ sụn chêm, chức năng cơ sinh học bị phá vỡ, dẫn đến tăng áp lực tiếp xúc giữa lồi cầu đùi và mâm chày, gây trồi, mất vững sụn chêm từ đó thúc đẩy quá trình thoái hóa khớp gối. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng rách sừng sau sụn chêm, nhất là phần rễ sụn chêm, có hậu quả cơ sinh học tương đương với cắt toàn bộ sụn chêm. Rách sừng sau sụn chêm là tổn thương xảy ra tại phần sau của sụn chêm, bao gồm vùng chuyển tiếp giữa thân sụn chêm và vị trí bám rễ vào xương chày. Trong đó rách rễ sụn chêm được định nghĩa là tổn thương rách xảy ra trong phạm vi 1 cm tính từ vị trí bám giải phẫu của sụn chêm vào diện gian lồi cầu xương chày hoặc là tình trạng bong hoàn toàn vị trí bám này. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rách sừng sau sụn chêm chiếm khoảng 10–21% tổng số các trường hợp rách sụn chêm được phát hiện qua nội soi khớp . Tổn thương sừng sau sụn chêm trong chủ yếu có nguồn gốc không do chấn thương và thường xảy ra trong bối cảnh thoái hóa khớp gối và biến dạng vẹo trong của khớp gối, trong khi rách sừng sau sụn chêm ngoài có xu hướng chủ yếu do chấn thương và thường liên quan đến đứt dây chằng chéo trước. Rách sừng sau sụn chêm thường biểu hiện bằng đau mặt sau khớp gối, tiếng kêu lách tách khi thực hiện các hoạt động nhẹ như làm việc nhà, đi cầu thang, đứng dậy khỏi ghế, ngồi xổm,… Tuy nhiên, triệu chứng lâm sàng thường không điển hình và dễ nhầm lẫn với thoái hóa khớp gối đơn thuần. Cộng hưởng từ là phương tiện chẩn đoán hình ảnh có giá trị cao, với các dấu hiệu đặc trưng như mất tín hiệu liên tục của sụn chêm, hình ảnh “bóng ma” trên mặt cắt đứng dọc hoặc hiện tượng trồi sụn chêm trên mặt cắt đứng ngang. Nội soi khớp vẫn được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán xác định và đồng thời cho phép can thiệp điều trị. Điều trị không phẫu thuật, cắt bỏ một phần sụn chêm và phẫu thuật khâu sụn chêm là ba trong số những lựa chọn điều trị phổ biến nhất cho bệnh nhân bị rách sừng sau sụn chêm. Lựa chọn phương pháp điều trị phần lớn phụ thuộc vào loại và mức độ rách sụn chêm, chỉ định và chống chỉ định phẫu thuật sửa chữa và tình trạng sụn khớp. Nhiều nghiên cứu đánh giá khâu sụn chêm giúp giảm đáng kể sự tiến triển của viêm khớp và nhu cầu phẫu thuật thay khớp gối so với điều trị không phẫu thuật và cắt bỏ một phần sụn chêm. Có nhiều phương pháp khâu sừng sụn chêm được
sử dụng như: khâu từ trong ra ngoài (inside-out), từ ngoài vào trong (outside-in), hoàn toàn bên trong (all-inside) và gần đây là kỹ thuật khâu phục hồi sừng sau sụn chêm bằng phương pháp khâu xuyên xương chày được phát triển với mục tiêu tái lập vị trí
giải phẫu của sụn chêm, phục hồi sức căng vòng và cải thiện chức năng khớp gối, đặc biệt là trong trường hợp rách rễ, mất vững sừng sau. Trên thế giới, nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả của các phương pháp khâu phục hồi rách sừng sau sụn chêm. Trong khi đó tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu riêng biệt về khâu sừng sau sụn chêm còn chưa nhiều. Vì vậy, để góp thêm thông tin về các kĩ thuật kỹ thuật khâu phục hồi rách sừng sau sụn chêm, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá kết quả phẫu thuật khâu sừng sau sụn chêm khớp gối qua nội soi”, với 2 mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của rách sừng sau sụn chêm
2. Đánh giá kết quả phẫu thuật khâu sừng sau sụn chêm qua nội soi khớp

PDF Download: 0 View: 0