Tóm tắt
Staphylococcus aureus là một tác nhân gây bệnh quan trọng ở người, liên quan đến nhiễm trùng trong cộng đồng và vai trò của nó trong nhiễm trùng bệnh viện cũng gia tăng trong những thập kỷ gần đây. Khả năng gây bệnh của tụ cầu là do vi khuẩn phát triển và lan tràn rộng rãi trong mô cũng như tạo thành nhiều độc tố và enzyme. Đồng thời tại một số khoa trọng điểm về kiểm soát nhiễm khuẩn như khoa hồi sức tích cực thì việc sử dụng nhiều loại kháng sinh với liệu trình kéo dài… làm tăng mức độ kháng thuốc của Staphylococcus aureus, đó là một hiểm họa mà ngành y tế cần phải chú ý để ngăn chặn.
Từ khi được sản xuất và đưa vào sử dụng (năm 1959), methicillin được xem là kháng sinh hàng đầu được dùng cho điều trị các nhiễm trùng do Staphylococcus aureus kháng Penicillin. Tuy nhiên, ngay từ những năm đầu của thập niên 60, Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA = Methicillin-resistant Staphylococcus aureus) đã được ghi nhận là loại vi khuẩn phổ biến gây lo ngại trong môi trường bệnh viện. Ngoài kháng methicillin, vi khuẩn này còn phát triển kháng với nhiều thuốc khác (vancomycin, fluoroquinolone…), do đó chỉ trong 1 thời gian ngắn nó được xem như là “siêu vi khuẩn”.
Hiện nay sự xuất hiện và lan rộng của Staphylococcus aureus đề kháng methicillin (MRSA) là nguyên nhân phổ biến trong nhiễm trùng bệnh viện làm gia tăng tỉ lệ tử vong vì chúng đề kháng với hầu hết kháng sinh họ β-lactam, gây khó khăn lớn trong điều trị. Cơ chế kháng methicillin của S. aureus chủ yếu dựa trên sự hiện diện của gen mecA thu được thông qua một yếu tố di truyền di động gọi là Staphylococcal Cassette Chromosome mec (SCCmec). Gen này mã hoá cho protein gắn penicillin biến đổi (PBP2a), làm mất ái lực với các kháng sinh nhóm β-lactam. Gen mecA có thể được truyền dễ dàng từ vi khuẩn này sang vi khuẩn khác. Điều này giải thích sự lan truyền nhanh chóng của các chủng MRSA. Vì thế việc phát hiện sớm và chính xác Staphylococcus aureus kháng methicillin có thể được xem như phát hiện một thông số chỉ điểm được vi khuẩn Staphylococcus aureus kháng đa kháng sinh và là một yếu tố quan trọng để đảm bảo cho việc điều trị hiệu quả cho bệnh nhân.
Phương pháp xác định MRSA dựa trên sự hiện diện của gen mecA hiện được xem chính xác hơn các phương pháp xác định kiểu hình khác. Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây cho thấy việc chỉ xác định sự có mặt của mecA là chưa đủ để giải thích hoàn toàn kiểu hình kháng thuốc. Sự hiện diện của gen mecI với vai trò ức chế hoạt động gen mecA đã được tìm thấy ở một số chủng. Các đột biến trên hai gen này có thể làm thay đổi hoặc không thay đổi kiểu hình đề kháng do đó cần phải được xác định để giải thích rõ hơn về cơ chế đề kháng của vi khuẩn.
Để xác định sự hiện diện của gen mecA và mecI ở S.aureus có thể các phương pháp được ứng dụng hiện nay là phương pháp real time PCR, PCR... Phương pháp có thể hiển thị kết quả DNA đích ngay mỗi chu kỳ nhiệt của phản ứng nhân bản đoạn DNA bằng real-time PCR hay bằng nhuộm ethidium bromide sản phẩm khuếch đại và xem dưới ánh sáng tử ngoại bước sóng 254nm sau PCR. Trong ứng dụng chẩn đoán tác nhân nhiễm trùng, các phương pháp này có thể vừa xác định được tác nhân vừa xác định gen kháng kháng sinh. Trường Đại học Y Dược Huế đã tổ chức các hội thảo và có các nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật phân tử (như PCR) để phát hiện sớm các chủng MRSA, giúp định hướng điều trị kháng sinh hiệu quả. Tại Việt Nam nói chung và thành phố Huế nói riêng chưa có nhiều nhiên cứu về mối liên hệ giữa sự hiện diện của các gen kháng kháng sinh mecA của Staphylococcus aureus và gen điều hòa mecI được báo cáo. Chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu mức độ đề kháng kháng sinh và sự hiện diện gen mecA, mecI của vi khuẩn Staphylococcus aureus phân lập tại Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Huế giai đoạn 2026 - 2027” với 2 mục tiêu cụ thể sau:
- Xác định tỉ lệ kháng kháng sinh của các chủng Staphylococcus aureus và tỷ lệ các chủng MRSA (Methicillin Resistance S.aureus) phân lập được.
2. Xác định tỷ lệ hiện diện của gen mecA, mecI với mức độ liên quan đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus aureus phân lập được.

