SDH.CK2 Đánh giá hiệu quả của khoét chóp cổ tử cung trong điều trị tổn thương tân sinh biểu mô cổ tử cung
PDF Download: 5 View: 4

Tóm tắt

Ung thư cổ tử cung (UTCTC) hiện vẫn là một trong những loại ung thư phụ khoa hàng đầu gây tử vong ở phụ nữ trên toàn thế giới và tại Việt Nam. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ung thư cổ tử cung là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho phụ nữ, chiếm 12% trong các ung thư ở nữ giới và 85% trường hợp xảy ra ở nước đang phát triển [1]. Tuy nhiên, đây là loại ung thư có thể dự phòng và điều trị khỏi nếu phát hiện sớm ở giai đoạn tân sinh nội biểu mô cổ tử cung (CIN). Việc nhận diện và xử trí chính xác các tổn thương tiền ung thư không chỉ giúp ngăn chặn tiến triển thành ung thư xâm lấn mà còn bảo tồn chức năng sinh sản cho người phụ nữ.

Một chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung giúp phát hiện sớm, điều trị các tổn thương tiền ung thư bằng tế bào cổ tử cung, quan sát cổ tử cung bằng mắt thường sau bôi acid acetic, xét nghiệm Human Papilloma virus (HPV), soi cổ tử cung, sinh thiết để chẩn đoán là nhiệm vụ quan trọng nhằm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung ở phụ nữ [2]. Qua chương trình sàng lọc này, các tổn thương cổ tử cung được điều trị bằng nhiều phương pháp như đặt thuốc âm đạo, áp lạnh, đốt bằng hóa chất, đốt điện cổ tử cung, đốt nhiệt, bức xạ quang nhiệt, phẫu thuật khoét chóp, cắt cụt cổ tử cung hoặc cắt tử cung toàn phần... nhằm điều trị các tổn thương từ lành tính đến ác tính, với tỷ lệ thành công của mỗi phương pháp đạt từ 80% đến 97% [3]. Trong thực hành lâm sàng, quy trình chẩn đoán thường đi từ tế bào học, soi cổ tử cung đến sinh thiết dưới hướng dẫn của máy soi. Tuy nhiên, sinh thiết bằng kẹp (punch biopsy) đôi khi không đại diện hết toàn bộ tổn thương do sai số lấy mẫu hoặc tổn thương nằm sâu trong kênh cổ tử cung. Có một tỷ lệ không nhỏ sự không tương xứng giữa kết quả sinh thiết trước mổ và kết quả mô bệnh học sau khoét chóp (thường là bỏ sót tổn thương độ cao hoặc ung thư vi xâm lấn). Việc xác định mức độ phù hợp giữa sinh thiết và bệnh phẩm khoét chóp là cực kỳ quan trọng để đánh giá độ tin cậy của các bước chẩn đoán ban đầu. 

Trong các phương pháp điều trị, khoét chóp cổ tử cung bằng vòng điện (LEEP) đã tạo nên một bước tiến đột phá so với phương pháp khoét chóp bằng dao lạnh truyền thống. Với ưu điểm vượt trội như thời gian thực hiện nhanh, ít mất máu, tỷ lệ biến chứng thấp và thời gian hồi phục ngắn, LEEP không chỉ là một phương pháp điều trị hiệu quả mà còn cung cấp bệnh phẩm toàn diện để đánh giá diện cắt. Đây là yếu tố tiên quyết để khẳng định tính triệt để của can thiệp và tiên lượng nguy cơ tái phát

Tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, việc chuẩn hóa quy trình chẩn đoán và điều trị tổn thương tân sinh cổ tử cung luôn được ưu tiên hàng đầu. Để có cái nhìn khách quan về chất lượng điều trị và độ chính xác của các bước chẩn đoán, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Đánh giá hiệu quả của khoét chóp cổ tử cung trong điều trị tổn thương tân sinh biểu mô cổ tử cung tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế nhằm hai mục tiêu:

  1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng các trường hợp tổn thương tân sinh biểu mô cổ tử cung.

       2. Đánh giá hiệu quả điều trị của phương pháp khoét chóp cổ tử cung do tổn thương tân sinh biểu mô cổ tử cung.

Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân được chẩn đoán tổn thương tân sinh biểu mô cổ tử cung, nhập viện tại Trung tâm Sản phụ khoa, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế trong thời gian từ tháng 03/2026 tới tháng 12/2027 thỏa mãn tiêu chuẩn: Bệnh nhân có kết quả tế bào học bất thường (ASC-H, HSIL, AGC...) hoặc soi cổ tử cung có nghi ngờ tổn thương mức độ cao hoặc có nhiễm HPV, hoặc bệnh nhân có kết quả sinh thiết cổ tử cung trước mổ là tổn thương tân sinh biểu mô cổ tử cung hoặc ung thư biểu mô tại chỗ, được chỉ định và thực hiện thủ thuật khoét chóp cổ tử cung, có hồ sơ đầy đủ và tái khám theo lịch hẹn. Loại trừ các trường hợp: Ung thư cổ tử cung giai đoạn xâm lấn đã rõ ràng trên lâm sàng,  bệnh nhân đang có tình trạng viêm nhiễm cấp tính đường sinh dục (phải điều trị ổn định trước khi làm thủ thuật khoét chóp), đang có thai hoặc đang trong tình trạng viêm nhiễm cấp tính đường sinh dục, hoặc có các bệnh lý toàn thân nặng: Rối loạn đông máu, suy tim, suy thận...

Thu thập số liệu

Thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn bệnh nhân, tham khảo hồ sơ bệnh án, dựa trên thu thập các số liệu sẵn có tại hồ sơ bệnh án và sổ phẫu thuật được lưu trữ tại Phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế,

Xin chấp thuận tự nguyện

Phiếu chấp thuận tình nguyện về việc bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.

PDF Download: 5 View: 4