Tóm tắt
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh lý chuyển hoá mạn tính và là một mối lo ngại toàn cầu về vấn đề sức khoẻ. Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), hiên nay trên thế giới có khoảng 589 triệu người trưởng thành ở độ tuổi từ 20-79 mắc đái tháo đường, con số này ước tính sẽ gia tăng nhanh chóng và có thể đạt đến 853 triệu người vào năm 2050. Với số lượng người mắc đái tháo đường đang gia tăng mỗi năm, tỉ lệ mắc bệnh thận đái tháo đường (BTĐTĐ), một biến chứng vi mạch cũng tăng lên qua từng năm. Ước tính khoảng một phần ba số bệnh nhân đái tháo đường sẽ phát triển bệnh thận đái tháo đường. Biến chứng này là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh thận mạn và chiếm hơn 50% số ca bệnh thận mạn giai đoạn cuối. Năm 2021 trên thế giới ghi nhận 1,6 triệu ca tử vong do đái tháo đường, trong đó có tới 530 000 ca tử vong do bệnh thận đái tháo đường gây ra. Theo một nghiên cứu tại Việt Nam vào năm 2025, tỉ lệ bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có biến chứng thận là 31,1%. Điều này gây ra gánh nặng về kinh tế, xã hội, đặc biệt ở những nước đang phát triển cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường.
Quá trình viêm mạn tính và stress oxy hoá đóng vai trò quan trọng trong tiến triển của bệnh thận đái tháo đường. Tăng glucose máu kéo dài thúc đẩy hình thành các sản phẩm glycat hóa bền vững (AGEs), hoạt hóa hệ renin–angiotensin–aldosterone, rối loạn chuyển hóa lipid, từ đó làm tăng sản sinh gốc tự do và hoạt hóa các đường truyền tín hiệu tiền viêm. Các biến đổi này không chỉ gây tổn thương trực tiếp tế bào nội mô, tế bào gian mạch và tế bào ống thận mà còn khuếch đại đáp ứng viêm thông qua việc tăng biểu lộ các phân tử kết dính và các chất trung gian hoá học gây viêm, từ đó hình thành vòng xoắn bệnh lý giữa stress oxy hóa và viêm mạn tính trong nhu mô thận. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố viêm như interleukin (IL), chemokines, yếu tố hoại tử u alpha (TNF-α) gây ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng thận thông qua sự huy động và xâm nhập của các tế bào viêm cũng như thúc đẩy sự tăng sinh của tế bào gian mạch thận và sự lắng đọng chất nền ngoại bào. Tuy nhiên, đây đều là những xét nghiệm chi phí cao và khó thực hiện nên không thể chỉ định thường quy. Trong bối cảnh đó, các chỉ số như chỉ số chỉ số viêm hệ thống (SII: systemic inflammation index), chỉ số đáp ứng viêm hệ thống (SIRI: systemic inflammation response index) và tỉ số bạch cầu trung tính trên bạch cầu lympho (NLR: neutrophil-to-lymphocyte ratio) nổi lên như những chỉ điểm sinh học mới, dễ tính toán từ các thông số trong xét nghiệm công thức máu ngoại vi và có khả năng phản ánh tình trạng viêm hệ thống. Các chỉ số này phản ánh một cách nhạy bén hơn sự cân bằng giữa miễn dịch và viêm trong cơ thể so với việc chỉ dựa trên một chỉ số tế bào máu đơn lẻ. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy các chỉ số này có liên quan với mức độ tổn thương thận, albumin niệu và nguy cơ tiến triển bệnh ở bệnh nhân đái tháo đường. Hiện nay ở Việt Nam các công bố về chỉ số SII, SIRI, NLR ở đối tượng bệnh nhân này còn rất hạn chế, vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các chỉ số viêm SII, SIRI, NLR ở bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường” với 2 mục tiêu:
- Xác định các chỉ số viêm SII, SIRI, NLR ở bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường.
- Khảo sát mối liên quan giữa các chỉ số SII, SIRI, NLR với các đặc điểm cận lâm sàng khác (ure, creatinine máu, albumin niệu, mức lọc cầu thận) ở bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường.

