SDH.CH LIÊN QUAN GIỮA THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI INSULIN, NỖI SỢ HẠ ĐƯỜNG HUYẾT, HÀNH VI TỰ QUẢN LÝ VÀ HBA1C Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y – DƯỢC HUẾ.
PDF Download: 5 View: 9

Tóm tắt

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường (ĐTĐ) đang là một trong những thách thức y tế công cộng cấp bách nhất toàn cầu. Theo dự báo của Liên đoàn ĐTĐ Thế giới (IDF) năm 2025, toàn thế giới sẽ có khoảng 853 triệu người mắc bệnh. Tại Việt Nam, tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ ở người trưởng thành là 7,3% (chủ yếu là ĐTĐ típ 2). Đáng báo động, cộng đồng hiện có tới 62,6% người bệnh chưa được chẩn đoán, đồng thời tỷ lệ bệnh nhân đang điều trị đạt được mục tiêu kiểm soát đường huyết (HbA1c) vẫn còn rất thấp, kéo theo gánh nặng lớn về biến chứng và chi phí y tế.

Kiểm soát tốt HbA1c là mục tiêu trung tâm trong quản lý ĐTĐ típ 2. Hiệu quả này không chỉ phụ thuộc vào phác đồ y khoa mà còn bị chi phối mạnh mẽ bởi hành vi tự quản lý của người bệnh. Dù đóng vai trò then chốt, hành vi tuân thủ điều trị lại thường xuyên bị cản trở bởi hai yếu tố tâm lý vô hình nhưng phức tạp: Khảo sát cho thấy khoảng 43% người bệnh có thái độ tiêu cực hoặc e ngại insulin. Đây là rào cản lớn làm chậm trễ việc khởi trị, giảm tuân thủ và ảnh hưởng xấu đến kết quả lâm sàng.  Nỗi lo âu này thường dẫn đến các hành vi "tránh né" tự phát ở người bệnh (như tự ý giảm liều thuốc hoặc ăn uống sai mốc thời gian), qua đó gián tiếp làm mất kiểm soát đường huyết.

Nhận diện và giải quyết các rào cản tâm lý là chiến lược cốt lõi để thúc đẩy hành vi tự quản lý. Tuy nhiên tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực miền Trung, các nghiên cứu hiện tại mới chỉ dừng ở việc đánh giá đơn lẻ từng yếu tố. Việc thiếu vắng một mô hình phân tích toàn diện, đánh giá tương tác đồng thời giữa thái độ với insulin, nỗi sợ hạ đường huyết, hành vi tự quản lý và HbA1c đang là một khoảng trống lớn trong thực hành lâm sàng.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Liên quan giữa thái độ đối với insulin, nỗi sợ hạ đường huyết, hành vi tự quản lý và HbA1c ở người bệnh đái tháo đường tại Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Huế”. với 2 mục tiêu nghiên cứu

 Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu 1: Khảo sát thái độ đối với insulin, nỗi sợ hạ đường huyết và hành vi tự quản lý bệnh ở người bệnh đái tháo đường típ 2.

  • Mục tiêu 2: Phân tích mối liên quan giữa thái độ đối với insulin, nỗi sợ hạ đường huyết, hành vi tự quản lý và kết quả kiểm soát đường huyết (HbA1c).

2. Đối tượng

          Người bệnh được chẩn đoán ĐTĐ típ 2 theo tiêu chuẩn của ADA tại Bệnh viện Trường Đại Học Y - Dược Huế.

2.1.Tiêu chuẩn chọn bệnh

- Người bệnh được chẩn đoán ĐTĐ típ 2 đang điều trị ngoại trú hoặc nội trú

- Có kết quả xét nghiệm HbA1C gần nhất trong vòng 3 tháng

- Độ tuổi từ 18 trở lên

- Đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.2. Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân có biến chứng cấp tính nặng (hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu, nhiễm toan ceton), ung thư.

- Bệnh nhân mắc các bệnh tâm thần hoặc suy giảm nhận thức nặng (không thể trả lời bộ câu hỏi).

- Bệnh nhân nữ đang mang thai, ĐTĐ típ 1 hoặc mắc các bệnh lý ảnh hưởng đến chỉ số HbA1C (thiếu máu, đa hồng cầu…)

3. Phương pháp nghiên cứu 3.1. Thiết kế nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Huế.

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2026 đến tháng 9/2027

3.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

3.2.1. Cỡ mẫu

Do nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố liên quan đến tình trạng kiểm soát đường huyết (HbA1c) và dự kiến sử dụng mô hình hồi quy logistic đa biến với biến kết cục nhị phân (HbA1c), cỡ mẫu được xác định dựa trên nguyên tắc số biến cố trên một biến độc lập (Events Per Variable – EPV).

Theo khuyến cáo của Peduzzi và cộng sự (1996), để đảm bảo độ ổn định của mô hình hồi quy logistic, cần tối thiểu 10 biến cố cho mỗi biến độc lập được đưa vào mô hình phân tích [44].

Trong nghiên cứu này, dự kiến đưa vào mô hình khoảng k = 10 biến độc lập, do đó số biến cố tối thiểu cần có là:

E=10×k=10×10=100 số biến cố.

Dựa trên các nghiên cứu trong nước và báo cáo thực hành lâm sàng, tỷ lệ người bệnh đái tháo đường típ 2 chưa đạt mục tiêu kiểm soát HbA1c tại Việt Nam ước tính khoảng 64–70%, tương ứng với tỷ lệ đạt mục tiêu chỉ khoảng 30–36%[47]. Trong nghiên cứu này, chọn p = 0,64 là tỷ lệ biến cố dự kiến.

Cỡ mẫu tối thiểu được xác định theo công thức: 156

Cộng thêm khoảng 10% dự phòng cho các trường hợp thiếu dữ liệu hoặc loại khỏi phân tích, cỡ mẫu cuối cùng của nghiên cứu là: 171 người bệnh

3.2.3. Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện liên tục. Các đối tượng tham gia nghiên cứu thoả mãn các tiêu chuẩn chọn bệnh.

4. Phân tích và xử trí số liệu

Số liệu sau khi thu thập được kiểm tra tính đầy đủ và hợp lý, sau đó nhập liệu kép và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 26.0. Các phương pháp thống kê được sử dụng phù hợp với mục tiêu và bản chất của từng biến số nghiên cứu.

4.1. Thống kê mô tả

- Đối với các biến định tính (giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, phác đồ điều trị, tiền sử hạ đường huyết…): Trình bày dưới dạng tần suất (n) và tỷ lệ phần trăm (%).

- Đối với các biến định lượng (tuổi, thời gian mắc bệnh, BMI, điểm ITAS, điểm HFS-W, điểm DSMQ, HbA1c):

+ Kiểm tra phân phối bằng kiểm định Kolmogorov–Smirnov/Shapiro–Wilk.

+ Nếu phân phối chuẩn: Trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn.

+ Nếu không phân phối chuẩn: Trình bày dưới dạng trung vị (IQR).

4.2. Phân tích so sánh

- Kiểm định T-test độc lập được sử dụng để so sánh giá trị trung bình của các biến định lượng giữa hai nhóm (ví dụ: HbA1c theo giới tính, tiền sử hạ đường huyết).

- Phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA) được sử dụng để so sánh trung bình giữa từ ba nhóm trở lên (ví dụ: HbA1c theo phác đồ điều trị, thời gian mắc bệnh, mức BMI).

- Khi ANOVA cho kết quả có ý nghĩa thống kê, phân tích hậu nghiệm (post-hoc) được thực hiện để xác định sự khác biệt cụ thể giữa các nhóm.

4.3. Phân tích mối liên quan

- Hệ số tương quan Pearson được sử dụng để đánh giá mối liên quan giữa các biến định lượng có phân phối chuẩn (điểm ITAS, điểm HFS-W, điểm DSMQ và HbA1c).

- Hệ số tương quan Spearman được sử dụng trong trường hợp các biến không phân phối chuẩn.

- Mức độ tương quan được đánh giá dựa trên giá trị hệ số tương quan (r) và ý nghĩa thống kê.

4.4. Phân tích hồi quy

- Mô hình hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan độc lập đến tình trạng kiểm soát đường huyết chưa đạt mục tiêu (HbA1c > 7%).

- Các biến độc lập được đưa vào mô hình bao gồm:

+ Đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng (tuổi, giới, BMI, thời gian mắc bệnh, phác đồ điều trị, tiền sử hạ đường huyết),

+ Các yếu tố tâm lý và hành vi: điểm ITAS, điểm HFS-W và điểm DSMQ.

+ Kết quả hồi quy được trình bày dưới dạng odds ratio (OR) và khoảng tin cậy 95% (95% CI).

+ Các biến có p < 0,05 được xem là yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê.

xử lý số liệu

 

PDF Download: 5 View: 9