SDH.CH Mối liên quan giữa hành vi tự quản lý và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân xơ gan tại Bệnh viện Trung ương Huế
PDF Download: 1 View: 3

Tóm tắt

Xơ gan là giai đoạn cuối của nhiều bệnh lý gan mạn tính, đặc trưng bởi sự thay thế nhu mô gan bình thường bằng mô xơ và các nốt tái tạo, dẫn đến suy giảm chức năng gan và xuất hiện nhiều biến chứng nghiêm trọng. Mặc dù các biện pháp điều trị hiện nay chủ yếu nhằm làm chậm tiến triển bệnh và kiểm soát biến chứng, nhưng hiệu quả còn hạn chế; ghép gan vẫn là phương pháp duy nhất có khả năng điều trị triệt để. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận ghép gan còn nhiều khó khăn, đặc biệt tại các nước đang phát triển.

Quản lý bệnh xơ gan là một quá trình phức tạp và lâu dài, đòi hỏi người bệnh phải tuân thủ điều trị, duy trì chế độ ăn uống phù hợp, theo dõi dấu hiệu biến chứng và tái khám định kỳ. Trong bối cảnh đó, việc nâng cao vai trò chủ động của người bệnh thông qua các hành vi tự quản lý được xem là yếu tố then chốt giúp cải thiện hiệu quả điều trị. Các khuyến nghị quốc tế hiện nay đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường sự tham gia của người bệnh trong chăm sóc, hướng tới mô hình chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm.

Theo quan điểm của Corbin và Strauss, tự quản lý bao gồm ba lĩnh vực chính: quản lý y tế, quản lý hành vi và quản lý cảm xúc. Đối với bệnh nhân xơ gan, hành vi tự quản lý thể hiện qua việc tuân thủ dùng thuốc, điều chỉnh chế độ ăn, theo dõi triệu chứng và duy trì lối sống lành mạnh. Những hành vi này không chỉ giúp kiểm soát bệnh, giảm biến chứng mà còn góp phần cải thiện sức khỏe tâm lý, giảm lo âu, trầm cảm, giảm tỷ lệ nhập viện và chi phí điều trị.

Đặc biệt, hành vi tự quản lý có mối liên hệ mật thiết với chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe – một chỉ số quan trọng phản ánh hiệu quả chăm sóc toàn diện. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, các nghiên cứu về mối liên quan giữa hành vi tự quản lý và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân xơ gan còn hạn chế.

Dựa trên tính cấp thiết của vấn đề này, tôi tiến hành nghiên cứu: “Mối liên quan giữa hành vi tự quản lý và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân xơ gan tại Bệnh viện Trung ương Huế” với hai mục tiêu:

Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng hành vi tự quản lý và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe ở bệnh nhân xơ gan tại Bệnh viện Trung ương Huế.

Mục tiêu 2: Tìm hiểu một số yếu tố liên quan với chất lượng cuộc sống ở đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

-  Đối tượng nghiên cứu : Bệnh nhân được chẩn đoán xơ gan nhập viện điều trị nội trú tại khoa Nội tiêu hóa Bệnh viện Trung ương Huế.

-Tiêu chuẩn chọn bệnh: Bệnh nhân ≥ 18 tuổi được chẩn đoán xơ gan dựa trên lâm sàng, cận lâm sàng có khả năng giao tiếp và hợp tác trong quá trình phỏng vấn và đồng ý tham gia nghiên cứu (ký cam kết tham gia nghiên cứu).

- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

-  Cỡ mẫu: 146 bệnh nhân

- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện, lấy tất cả bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn trong thời gian nghiên cứu cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu.

- Sau khi đối tượng nghiên cứu đồng ý tham gia vào nghiên cứu và ký vào giấy. Đối tượng nghiên cứu sẽ hoàn thành phiếu khảo sát bao gồm các thông tin sau:

Bộ 1: Đăc điểm chung

  • Tuổi, Giới tính, Nghề nghiệp, Trình độ học vấn, BMI
  • Nguyên nhân xơ gan, Thời gian mắc bệnh, Số lần nhập viện/ năm, Tiền sử bệnh lý khác, Số lượng thuốc/ngày, Hút thuốc lá, Rượu bia, Số gam rượu/ngày, Báng bụng, Xuất huyết tiêu hóa, Phân độ Child-Pugh.

Bộ 2: Thang điểm hành vi tự quản lý SMBS

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng Self-Management Behaviour Scale nhằm đánh giá mức độ thực hiện các hành vi tự quản lý của người bệnh xơ gan trong quá trình điều trị và sinh hoạt hằng ngày. Thang điểm được phát triển bởi Wang Li và cộng sự, nhằm đánh giá một cách hiệu quả, khoa học và khách quan mức độ tự quản lý của người bệnh xơ gan, gồm 24 mục trong 4 khía cạnh: Quản lý sinh hoạt hàng ngày (8 mục), Quản lý chế độ ăn uống (7 mục), Quản lý theo dõi bệnh (4 mục), Quản lý thuốc (5 mục)

Mỗi câu hỏi được đánh giá theo thang Likert 4 mức độ, cụ thể:

  • 1 điểm: Hiếm khi
  • 2 điểm: Đôi khi
  • 3 điểm: Hầu hết thời gian
  • 4 điểm: Luôn luôn thực hiện

Tổng điểm hành vi tự quản lý được tính bằng cách cộng điểm của tất cả các mục, với phạm vi điểm dao động từ  24 đến 96 điểm , điểm càng cao cho thấy mức độ hành vi tự quản lý của người bệnh càng tốt [Wang, Q., Wang, Y., Gao, J., Han, J.-T., & Li, Y.-P. (2015)].

Bộ 2: Thang điểm chất lượng cuộc sống CLDQ

Trong các nghiên cứu về bệnh nhân xơ gan, HRQoL thường được đánh giá bằng nhiều bộ công cụ chuẩn hóa nhằm phản ánh mức độ ảnh hưởng của bệnh lên thể chất, tâm lý và hoạt động xã hội của người bệnh. Một trong những thang điểm chuyên biệt được sử dụng phổ biến là Chronic Liver Disease Questionnaire (CLDQ), được phát triển bởi TS. Zobair M. Younossi và các cộng sự tại Khoa Tiêu hóa thuộc The Cleveland Clinic Foundation (Ohio, Hoa Kỳ), được thiết kế riêng cho bệnh lý gan mạn tính, bao gồm các lĩnh vực như mệt mỏi, triệu chứng toàn thân, chức năng cảm xúc, lo lắng và hoạt động hằng ngày [Zhang, M., Zheng, X., Cui, Y., Chen, C., Yang, Q., Guo, H., & Yu, X. (2024)].

Thang điểm CLDQ được chia thành 6 nhân tố chính tương ứng với bảng câu hỏi tìm hiểu xem bệnh nhân cảm thấy thế nào trong hai tuần qua:

  • Triệu chứng ở bụng: Câu hỏi 1, 5, 17
  • Mệt mỏi: Câu hỏi 2, 4, 8, 11, 13
  • Triệu chứng toàn thân: Câu hỏi 3, 6, 21, 23, 27
  • Hoạt động: Câu hỏi 7, 9, 14
  • Chức năng cảm xúc: Câu hỏi 10, 12, 15, 16, 19, 20, 24, 26
  • Lo lắng: Câu hỏi 18, 22, 25, 28, 29

Điểm CLDQ được tính bằng cách lấy trung bình điểm của 29 câu hỏi. Điểm của từng lĩnh vực được tính bằng trung bình điểm của các câu hỏi thuộc lĩnh vực đó. Giá trị điểm dao động từ 1 đến 7, với điểm cao hơn phản ánh chất lượng cuộc sống tốt hơn.

Điểm cắt CLDQ đã được xác định để đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe dựa trên các tài liệu trước đó; Điểm CLDQ trung bình ≥ 5 được coi là biểu hiện chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe cao, còn điểm CLDQ trung bình < 5 biểu thị chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe thấp [Parkash, O., Iqbal, R., Jafri, F., Azam, I., & Jafri, W. (2012)].

Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Dữ liệu được nhập và quản lý bằng Microsoft Office 365, phân tích bằng SPSS 26.0 và trình bày biểu đồ bằng SPSS và Graph. Phân phối chuẩn được kiểm định bằng Kolmogorov–Smirnov. Biến liên tục có phân phối chuẩn được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn; biến không phân phối chuẩn được trình bày bằng trung vị và khoảng tứ phân vị (IQR). Biến định tính được mô tả bằng tần số và tỷ lệ phần trăm.

So sánh giữa hai nhóm chất lượng cuộc sống (CLDQ ≥ 5 và < 5) được thực hiện bằng Independent t-test đối với biến phân phối chuẩn, Mann–Whitney test đối với biến không chuẩn; biến định tính sử dụng χ² hoặc Fisher’s exact test. Ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Mối tương quan giữa các biến được đánh giá bằng hệ số Pearson (phân phối chuẩn) hoặc Spearman (không chuẩn), với mức độ tương quan phân loại từ yếu đến rất mạnh theo giá trị |r|; kết quả được biểu diễn bằng biểu đồ nhiệt (heatmap).

Đường cong ROC và diện tích dưới đường cong (AUC) được sử dụng để đánh giá giá trị dự báo của thang điểm SMBS đối với nguy cơ chất lượng cuộc sống thấp. Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ.

PDF Download: 1 View: 3