Tóm tắt
Nontuberculous mycobacteria (NTM) là vi khuẩn thuộc họ Mycobacteriaceae
thường tồn tại trong môi trường đất, nước. Khoảng 200 loài NTM và 13 dưới loài
được xác định, trong đó chỉ có khoảng 50 loài phân lập từ bệnh phẩm, có liên quan
đến bệnh lý ở người. NTM có thể gây bệnh ở hầu hết các tổ chức, trong đó tổn
thương phổi do NTM chiếm tỷ lệ cao nhất. Thời gian gần đây bệnh nhiễm trùng do
NTM có xu hướng gia tăng trên thế giới cũng như ở Việt nam. Nghiên cứu của Pyarali
cho thấy tỉ lệ hiện mắc NTM đã tăng gấp 3 lần trong giai đoạn 2001- 2015 (từ 93,1
lên 227,6/100.000 dân). Tỉ lệ mắc và tử vong do NTM đã tăng lên trên thế giới có
liên quan đến sự chậm trễ trong chẩn đoán và điều trị. Riello thực hiện kỹ thuật PCR
-RFLP trên 55 bệnh nhân được chẩn đoán lao bằng phương pháp nuôi cấy cho thấy có
18 (32,7%) bệnh nhân được xác định nhiễm NTM. Nghiên cứu tại Bệnh viện 74
Trung ương bằng giải trình tự gen hsp65 cho thấy nhóm mycobacteria phát triển chậm
chiếm 61,7%, trong đó Mycobacterium avium complex phổ biến nhất (37,4%), tiếp
theo là M. lentiflavum (7,0%) và M. simiae (7,0%). Nhóm phát triển nhanh chiếm
38,3%, chủ yếu gồm M. abscessus complex (31,3%) và M. fortuitum (7,0%). Chẩn
đoán sớm và chính xác loài NTM là chìa khoá then chốt trong việc quản lý người
bệnh và đưa ra phác đồ điều trị tối ưu. Việc điều trị kháng sinh không phù hợp có thể
giảm hiệu quả điều trị. Do đó việc định danh đến loài, dưới loài NTM nhanh chóng
và chính xác là rất quan trọng.
NTM có đặc điểm kháng thuốc phức tạp và đa dạng, là thách thức lớn trong
điều trị, sự đa dạng về loài dẫn đến khác biệt rõ rệt về kiểu hình kháng thuốc giữa
nhóm phát triển chậm và phát triển nhanh. Trên thế giới, tình trạng kháng thuốc của
NTM ngày càng gia tăng, đặc biệt là kháng macrolide – nhóm thuốc đóng vai trò trụ
cột trong điều trị. Tỷ lệ kháng clarithromycin ở M. abscessus có thể lên tới 40–60%,
trong khi ở Mycobacterium avium complex dao động khoảng 10–40%, và có liên quan
chặt chẽ đến thất bại điều trị. Tại Việt Nam, các nghiên cứu bước đầu cũng ghi
nhận xu hướng tương tự với tỷ lệ kháng macrolide đáng kể ở các chủng lâm sàng,
đặc biệt là M. abscessus. Về cơ chế, kháng macrolide chủ yếu liên quan đến gen2
erm(41) gây kháng cảm ứng và đột biến gen rrl gây kháng mức cao. Ngoài ra, các
gen rrs, rplC tham gia vào kháng aminoglycoside và linezolid. Sự gia tăng
kháng thuốc cùng với đa dạng cơ chế di truyền đòi hỏi cần định danh loài và phát
hiện gen kháng thuốc nhằm tối ưu hóa điều trị NTM.
Hiện nay, nuôi cấy vi khuẩn vẫn được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn
đoán nhiễm trùng do NTM. Tuy nhiên, phương pháp này có một số hạn chế như thời
gian nuôi cấy kéo dài, không phân biệt chính xác giữa các loài NTM có đặc điểm
tương đồng. Bên cạnh đó, nhiều loài NTM có mối liên quan di truyền rất gần nhau,
khiến việc định danh chỉ dựa trên một đoạn gen đơn lẻ thường không đạt độ chính
xác cao. Do đó, các phương pháp sinh học phân tử, đặc biệt là giải trình tự gen, ngày
càng được ứng dụng nhằm hỗ trợ và nâng cao độ chính xác trong định danh loài
NTM. Trong bối cảnh đó giải trình tự toàn bộ hệ gen (WGS) được xem là giải pháp
tối ưu giúp khắc phục những hạn chế của kỹ thuật đơn gen Giải trình tự Nanopore
ngày càng được sử dụng phổ biến để xác định các vi sinh vật gây bệnh. Một
số nghiên cứu gần đây cho thấy công nghệ giải trình tự Nanopore có hiệu quả chẩn
đoán cao đối với NTM và có thể xác định trực tiếp xác loài vi khuẩn. Tại Huế chưa
có nghiên cứu nào về nhiễm trùng phổi do NTM. Với lý do đó chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Định danh loài vi khuẩn nontuberculous mycobacteria gây
nhiễm trùng phổi bằng phương pháp giải trình tự gen Nanopore” với 2 mục tiêu
cụ thể sau:
1. Xác định chính xác tên loài thuộc nhóm vi khuẩn NTM gây nhiễm trùng
phổi bằng kỹ thuật giải trình tự gen Nanopore trên máy MinION.
2. Phân tích một số gen liên quan đến tính kháng thuốc nhóm macrolide,
aminoglycoside và linezolid của các chủng NTM.

