SDH.NT So sánh hiệu quả giảm đau của gây tê khoang cơ vuông thắt lưng đường trước với gây tê mặt phẳng cơ ngang bụng sau phẫu thuật nội soi cắt đại trực tràng
PDF Download: 2 View: 2

Tóm tắt

- Đối tượng nghiên cứu: Các bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật cắt đại trực tràng nội soi theo chương trình và có đủ các tiêu chuẩn sau để tham gia nghiên cứu, bao gồm: Tuổi từ 18 trở lên, tình trạng sức khỏe ASA I-III, được gây mê toàn thân có đặt nội khí quản, đồng ý tham gia nghiên cứu. Loại trừ những bệnh nhân có chống chỉ định gây tê vùng: dị ứng thuốc tê, nhiễm trùng vùng da chọc kim gây tê, rối loạn đông máu; có chống chỉ định với các thuốc được sử dụng trong nghiên cứu: dị ứng, suy gan nặng, suy thận nặng; bệnh nhân có tiền sử đau mạn tính, rối loạn tâm thần; người bệnh chuyển từ phẫu thuật nội soi sang phẫu thuật mở. Đưa ra khỏi nghiên cứu: có biến chứng nặng trong và sau phẫu thuật như phản vệ độ 3, co thắt phế quản nặng, ngừng tuần hoàn hô hấp,...; có biến chứng loạn thần, mê sảng sau phẫu thuật do khó hợp tác nghiên cứu 

Tóm tắt nội dung nghiên cứu:

  • Bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, kiểm tra hồ sơ bệnh án về các xét nghiệm, giấy cam đoan, giấy đồng ý tham gia nghiên cứu, được giải thích, hướng dẫn sử dụng PCA, thước đánh gia đau, các phương pháp giảm đau và được bốc thăm ngẫu nhiên vào nhóm QLB hoặc TAPB.
  • Bệnh nhân được tiến hành gây mê và phẫu thuật
  • Bệnh nhân được gây tê QLB hoặc TAPB tùy nhóm ngay sau khi phẫu thuật viên đóng da xong, trước khi thoát mê
  • Ghi nhận tình trạng chung trong phẫu thuật. Nếu có biến chứng nặng sẽ đưa ra khỏi nghiên cứu.
  • Cả hai nhóm đều được giảm đau đa mô thức gồm Paracetamol 1g truyền tĩnh mạch trước khi phẫu thuật kết thúc 30p, sau đó paracetamol mỗi 8h. PCA morphin tĩnh mạch.
  • Theo dõi đánh giá đau, theo dõi và xử trí các biến chứng/tác dụng không mong muốn (nếu có)
  • Thu thập số liệu nghiên cứu.
PDF Download: 2 View: 2