SDH.CH Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan với đái tháo đường típ 2 không thừa cân béo phì
PDF Download: 3 View: 4

Tóm tắt

Đái tháo đường típ 2 hiện nay là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất và đang gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu. Theo Atlas của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2025, thế giới có khoảng 589 triệu người mắc đái tháo đường và con số này dự kiến tăng lên 853 triệu vào năm 2050, với hơn 90% là đái tháo đường típ 2. Gánh nặng bệnh tật không chỉ nằm ở tỷ lệ mắc cao mà còn ở các biến chứng tim mạch, thận, thần kinh và võng mạc, làm tăng tử vong sớm và giảm chất lượng cuộc sống

Trong nhiều thập niên, mô hình bệnh sinh kinh điển của đái tháo đường típ 2 được xây dựng chủ yếu từ dữ liệu ở quần thể châu Âu và Bắc Mỹ, nơi béo phì và đề kháng insulin là cơ chế trung tâm. Do đó, điều trị khởi đầu bằng metformin – thuốc cải thiện đề kháng insulin – được khuyến cáo trong Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA). Tuy nhiên, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy đặc điểm dịch tễ và sinh lý bệnh của đái tháo đường típ 2 ở người châu Á có những khác biệt đáng kể so với người châu Âu.

WHO đã chỉ ra rằng người châu Á có nguy cơ mắc đái tháo đường típ 2 ở mức BMI thấp hơn so với người da trắng, và khuyến cáo sử dụng điểm cắt BMI ≥23 kg/m² để xác định thừa cân ở người châu Á. Nghiên cứu tổng quan lớn của Yoon và cộng sự trên The Lancet cho thấy người châu Á có tỷ lệ mỡ nội tạng cao hơn và suy giảm chức năng tế bào beta sớm hơn ở cùng mức BMI so với người phương Tây. Tương tự, Chan và cộng sự trên JAMA cũng nhấn mạnh vai trò nổi trội của suy giảm tiết insulin hơn là đề kháng insulin đơn thuần trong cơ chế bệnh sinh ở người châu Á.

Chính từ những khác biệt này, khái niệm “đái tháo đường típ 2 không thừa cân béo phì người châu Á” đã được đề cập trong nhiều tổng quan quốc tế, nhằm mô tả nhóm bệnh nhân có BMI bình thường hoặc thấp nhưng vẫn mắc đái tháo đường típ 2, không có tự kháng thể đặc hiệu của đái tháo đường típ 1 và đáp ứng với thuốc viên hạ đường huyết. Bài tổng quan của George AM và cộng sự đã sử dụng thuật ngữ “ bệnh đái tháo đường không thừa cân béo phì” để hệ thống hóa đặc điểm lâm sàng của nhóm bệnh nhân này. Ở người châu Á, BMI không phản ánh đầy đủ nguy cơ chuyển hóa do hiện tượng “ngoài gầy trong mập” – tức là tỷ lệ mỡ nội tạng cao và khối cơ thấp dù BMI bình thường

Tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á, tỷ lệ đái tháo đường típ 2 tiếp tục tăng nhanh, trong đó nhiều bệnh nhân không béo phì theo tiêu chuẩn BMI truyền thống. Ở Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ trước đây ghi nhận BMI trung bình của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 thường dao động khoảng 22–23 kg/m², tức thuộc ngưỡng bình thường theo WHO toàn cầu. Điều này đặt ra câu hỏi liệu một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Việt Nam có thuộc kiểu hình “không thừa cân béo phì người châu Á” hay không.

Mặc dù các nghiên cứu quốc tế đã bước đầu mô tả đặc điểm của “Đái tháo đường típ 2 không thừa cân béo phì người châu Á”, như sự suy giảm chức năng tế bào beta sớm, nguy cơ biến chứng tim mạch tương đương hoặc cao hơn và đáp ứng điều trị khác biệt, nhưng tại Việt Nam hiện nay chưa có nhiều công trình chuyên sâu đánh giá tỷ lệ cũng như các yếu tố liên quan đến kiểu hình này. Các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào tỷ lệ mắc chung, yếu tố nguy cơ, biến chứng của đái tháo đường típ 2, mà chưa phân tầng bệnh nhân theo kiểu hình BMI thấp để phân tích riêng biệt thì việc nghiên cứu chuyên biệt trên quần thể Việt Nam là cần thiết. Ngoài ra, nếu mô hình bệnh sinh ở nhóm đái tháo đường típ 2 không thừa cân béo phì thiên về suy giảm chức năng tế bào beta hơn là đề kháng insulin, chiến lược điều trị khởi đầu và theo dõi lâu dài có thể cần điều chỉnh so với mô hình kinh điển dựa trên béo phì. Việc nhận diện sớm kiểu hình này có thể giúp cá thể hóa điều trị, tối ưu kiểm soát đường huyết và phòng ngừa biến chứng. Tổng hợp những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan với đái tháo đường típ 2 không thừa cân béo phì” với hai mục tiêu:

  1. Xác định đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kiểm soát đường huyết và phác đồ điều trị trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 không thừa cân béo phì.
  2. Đánh giá mỗi liên quan giữa kiểm soát đường huyết với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phác đồ điều trị trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 không thừa cân béo phì. 
PDF Download: 3 View: 4