SDH.CH Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị vết thương đứt gân bàn tay ứng dụng kỹ thuật WALANT
PDF Download: 2 View: 2

Tóm tắt

Bàn tay và các ngón tay đóng một vai trò không thể thay thế trong đời sống hằng ngày, không những giúp con người thức hiện các chức năng cơ bản như cầm nắm, sử dụng được các công cụ trong lao động, sinh hoạt mà còn tham gia vào các hoạt động tinh vi, tỷ mỷ và phức tạp trong lao động và sinh hoạt hằng ngày [1]. Do đó, bất kỳ tổn thương nào ở bàn tay đều có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận động, sinh hoạt cũng như chất lượng sống của bệnh nhân. Ở vùng ngoại ô của Hoa Kỳ, một nghiên cứu cho thấy rằng chấn thương bàn tay là nhóm chấn thương phổ biến nhất, chiếm khoảng 10%  tổng số lượt bệnh nhân đến khám tại khoa cấp cứu, trong đó đứt gân là một trong những tổn thương thường gặp nhất, xuất hiện ở hơn 50% các trường hợp có vết thương hở bề mặt [2].Tại Việt Nam, đứt gân bàn tay là chấn thương phức tạp phổ biến ở độ tuổi lao động, dễ để lại di chứng tàn phế và gánh nặng lớn nếu không được can thiệp chuẩn xác [3], [4].

Trong phẫu thuật khâu nối gân bàn tay, các phương pháp vô cảm thường được sử dụng như gây mê toàn thân, gây tê đám rối hay gây tê tại chỗ với thuốc an thần[5]. Để có một phẫu trường sạch để quá trình phẫu thuật được tốt hơn, các phẫu thuật viên cần phải sử dụng đến garo dẫn tới thời gian phẫu thuật bị giới hạn bởi thời gian garo và gây cho bệnh nhân cảm giác đau tức sau phẫu thuật[6]. Nhược điểm lớn nhất của các phương pháp vô cảm này là việc phong bế hoàn toàn vận động, khiến phẫu thuật viên không thể đánh giá vận động chủ động của bệnh nhân ngay tại bàn mổ mà chỉ có thể đánh giá thông qua vận động thụ động[7], [8]. Sự thiếu hụt phối hợp vận động chủ động từ bệnh nhân làm tăng đáng kể nguy cơ dính gân, kẹt gân hoặc đứt gân thứ phát, từ đó suy giảm nghiêm trọng chất lượng phục hồi chức năng bàn tay sau phẫu thuật [9].

Kỹ thuật WALANT (Wide Awake Local Anesthesia No Tourniquet) được tiên phong và hệ thống hóa bởi Lalonde kết hợp giữa Lidocaine nhằm phong bế cảm giác và Epinephrine nhằm gây co mạch tại chỗ cung cấp phẫu trường sạch và khô ráo mà không cần tới việc sử dụng garo [10]. Việc không sử dụng garo giúp loại bỏ các biến chứng do thiếu máu cục bộ và giảm thiểu đau đớn cho bệnh nhân, từ đó nâng cao sự thoái mái cho người bệnh . Hơn thế nữa, ưu điểm lớn nhất của WALANT trong phẫu thuật khâu gân chính là khả năng duy trì trạng thái tỉnh táo và chức năng vận động chủ động của bệnh nhân trong suốt thời gian phẫu thuật, cho phép phẫu thuật viên đánh giá trực tiếp động học của gân trên bàn mổ, quan sát thực tế độ trượt của gân qua hệ thống ròng rọc, phát hiện và hiệu chỉnh ngay lập tức hiện tượng hở khe mép khâu, cũng như tinh chỉnh sức căng của mối nối đạt mức tối ưu [11]. Sự đánh giá kết quả phẫu thuật trực tiếp trong quá trình phẫu thuật không chỉ giảm thiểu tối đa các biến chứng dính hay đứt gân thứ phát, mà còn giúp cho bệnh nhân có thể tiến hành tập phục hồi chức năng sớm [12]. Bên cạnh đó phương pháp này còn làm giảm thời gian nằm viện, tiết kiệm chi phí điều trị và có thể ứng dụng ở những trung tâm y tế mà nguồn lực về trang thiết bị, nhân lực về gây mê còn thiếu thốn [13]. Điển hình trong điều trị đứt gân gấp, nghiên cứu mới đây của El-Gammal và cộng sự (2024) đã cho thấy phương pháp WALANT mang lại kết quả phục hồi chức năng tương đương và có phần tối ưu hơn so với phương pháp gây mê toàn thân [14]. Đồng thuận với quan điểm này, nghiên cứu tiến cứu của Abd Elhameed và cộng sự (2023) ghi nhận mức độ đau cực kỳ thấp trong quá trình phẫu thuật, đồng thời cho thấy WALANT tạo ra phẫu trường sạch trong quá trình phẫu thuật, bác sĩ có thể đánh giá trực tiếp sức căng, hiện tượng hở khe mép khâu hay kẹt ròng rọc ngay tại bàn mổ [15]. Nghiên cứu hồi cứu quy mô lớn của Lim và cộng sự (2025) trên 222 bệnh nhân cũng đã cho thấy rằng việc áp dụng WALANT trong phẫu thuật là an toàn và hiệu quả, với tỷ lệ biến chứng rất thấp, đồng thời phục hồi tốt các chỉ số cơ sinh học như biên độ vận động chủ động toàn phần và lực bóp nắm [16].

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu cho thấy tính an toàn và hiệu quả của WALANT trong phẫu thuật nối gân bàn ta . Tuy nhiên tại Việt Nam, WALANT vẫn chưa được áp dụng rộng rãi, chủ yếu do thiếu các nghiên cứu về đánh giá hiệu quả và tính an toàn của phương pháp này. Do đó, để có cái nhìn cụ thể hơn về giá trị của WALANT trong phẫu thuật điều trị vết thương đứt gân bàn tay chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG  ĐỨT GÂN BÀN TAY ỨNG DỤNG KỸ THUẬT WALANT” với các mục tiêu sau:

  1. Đánh giá đặc điểm lâm sàng vết thương đứt gân bàn tay được phẫu thuật điều trị ứng dụng kỹ thuật WALANT.
  2. Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị vết thương đứt gân bàn tay ứng dụng kỹ thuật WALANT
PDF Download: 2 View: 2