SDH.CK2 Đánh giá kết quả phẫu thuật và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân thay khớp háng toàn phần sử dụng chuôi giải phẫu
PDF Download: 5 View: 1

Tóm tắt

Phẫu thuật thay khớp háng toàn phần được áp dụng đầu tiên vào năm 1920, đây là phẫu thuật nhằm cắt bỏ hoàn toàn diện khớp bao gồm chỏm, cổ xương đùi và sụn ổ cối để thay thế bằng khớp nhân tạo [1]. Cho đến ngày nay, phẫu thuật thay khớp háng được cho là một trong những phẫu thuật phổ biến và đạt nhiều thành công trong bệnh lý về khớp háng [2]. Phẫu thuật thay khớp háng toàn phần không những cải thiện tình trạng đau, chức năng vận động khớp háng mà còn cải thiện chất lượng sống của người bệnh [3], [4].

Phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo ở Việt Nam được thực hiện lần đầu tiên vào khoảng năm 1973 tại bệnh viên Việt Đức, bối cảnh thời điểm đó kỹ thuật còn hạn chế, chủ yếu thay khớp háng bán phần cho gãy cổ xương đùi, các chuôi  phần lớn đơn giản, có xi măng, từ thập niêm 1990 trở đi phổ biến hơn với phẫu thuật thay khớp háng toàn phần, và từ năm 2000 trở đi thì áp dụng rộng rãi các thay khớp háng với chuôi không xi măng, các chuôi thiết kế theo hình dạng giải phẫu xương đùi.

Kể từ khi kỹ thuật thay khớp háng không xi măng được áp dụng lần đầu vào cuối những năm 1970, cộng với với sự phát triển của khoa học công nghệ, cùng sự phát tiển của các vật liệu, công nghệ chế tạo khớp nhân tạo, thì các thế hệ khớp được tạo ra với chất liệu và hình dáng chuôi gần sát với độ cứng và hình dạng của xương đùi để từ đó có thể phù hợp sinh lý, cơ sinh học nhất với xương khớp của con người.

Sự chấp nhận ngày càng cao về độ bền lâu dài của thay khớp háng toàn phần làm cho phương pháp này ngày càng được chỉ định nhiều hơn ở những bệnh nhân trẻ và có nhu cầu vận động cao. Hiện nay, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân trẻ, thay khớp háng không xi măng là phương pháp được ưu tiên sử dụng trên toàn thế giới, mặc dù có nguy cơ cao hơn về gãy xương đùi quanh chuôi.

 

 

Tuy các chuôi không xi măng dạng thẳng truyền thống cho kết quả lâu dài rất tốt, nhưng các biến chứng như gãy quanh chuôi hoặc suy yếu nhóm cơ dạng háng: cơ mông nhỡ, mông bé vẫn còn là vấn đề đáng quan tâm, theo nghiên cứu của Masonis và Bourne, tỷ lệ suy yếu cơ dạng sau thay khớp háng dao động từ 4% đến 22% [5]. Ngược lại, chuôi giải phẫu không xi măng SP-CL® thiết kế giải phẫu của chuôi này nhằm hai mục tiêu chính: thứ nhất là giúp đơn giản hóa quá trình đặt chuôi, từ đó giảm nguy cơ gãy xương đùi quanh chuôi trong mổ, thứ hai là với hình dạng cong chữ S, chuôi dễ dàng được đặt vào trung tâm xương đùi đồng thời bảo tồn vùng mấu chuyển, qua đó hạn chế các rối loạn cơ dạng, đồng thời cải thiện độ ổn định xoay và sự truyền lực sinh lý so với chuôi thẳng truyền thống [6] giúp phân bố lực đều hơn giảm đau đùi sau mổ giúp bệnh nhân sớm vận động sau mổ, cộng với việc bảo tồn xương trong cắt cao cổ xương đùi giúp việc truyền lực từ chỏm- cổ- chuôi được trực tiếp lên bờ calcar tránh hiện tượng tiêu xương.

Mặc dù chuôi giải phẫu là một bước tiến quan trọng trong thiết kế chuôi không xi măng, với nhiều ưu điểm về cơ sinh học và bảo tồn xương, các kết quả lâm sàng bước đầu cho thấy hiệu quả và độ an toàn cao, tuy nhiên vẫn cần thêm các nghiên cứu để khẳng định giá trị của thiết kế này trong thực hành lâm sàng thì qua đó nhằm mục đích nghiên cứu về những ưu nhược điểm và những yếu tố ảnh hưởng giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả phẫu thuật và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân thay khớp háng toàn phần sử dụng chuôi giải phẫu” với các mục tiêu sau:

  1. Đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp háng toàn phần sử dụng chuôi giải phẫu tại Bệnh Viện Đà Nẵng.
  2. Đánh giá chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân sau phẫu thuật theo thang điểm SF – 36.
PDF Download: 5 View: 1