Tóm tắt
Viêm túi thừa đại tràng (VTTĐT) là một trong những bệnh lý cấp cứu ngoại khoa ống tiêu hóa phổ biến [1]. Trên thế giới, cùng với sự già hóa của dân số và sự thay đổi sang lối sống, chế độ ăn ít chất xơ kiểu phương Tây, tỷ lệ mắc và nhập viện do viêm túi thừa đại tràng cấp đang có xu hướng gia tăng [2],[3]. Tại Việt Nam, nếu như trước đây bệnh lý này thường ít được nhắc đến và hay bị bỏ sót, thì hiện nay, với sự phát triển vượt bậc của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là chụp cắt lớp vi tính (CT-scan), bệnh lý túi thừa đại tràng đang ngày càng được chẩn đoán và quan tâm nhiều hơn.
Bệnh lý này có phổ lâm sàng vô cùng đa dạng, dao động từ một tình trạng viêm khu trú nhẹ nhàng có thể điều trị ngoại trú, cho đến các biến chứng đe dọa tính mạng như áp xe, rò, hẹp ruột hay vỡ thủng gây viêm phúc mạc toàn thể. Điểm đặc biệt đáng lưu tâm là bệnh sinh và đặc điểm dịch tễ của túi thừa đại tràng có sự khác biệt rất lớn theo khu vực địa lý và chủng tộc. Ở các nước phương Tây, túi thừa chủ yếu xuất hiện ở đại tràng trái (chiếm đến 72% bệnh nhân trên 80 tuổi ở cả hai giới) và tỷ lệ mắc tăng dần theo tuổi [4]. Ngược lại, tại quần thể người châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, bệnh lại mang một hình thái hoàn toàn khác: viêm túi thừa đại tràng đa phần xuất hiện ở đại tràng phải, thường khởi phát ở độ tuổi trẻ hơn rất nhiều [4], [5],[6],[7]. Sự khác biệt cơ bản về giải phẫu, sinh lý bệnh và độ tuổi mắc bệnh này đặt ra một thách thức lớn.
Trong nhiều thập kỷ, phân loại Hinchey kinh điển (1978) đã được sử dụng rộng rãi nhưng bộc lộ nhiều hạn chế vì chủ yếu dựa vào tổn thương đại thể trong mổ. Các phân loại mới hơn như WSES (2020), phân loại của Đức (GCDD) hay phân loại Hinchey cải biên thì lại dựa nhiều vào hình ảnh CT-scan mà đôi khi bỏ qua tình trạng lâm sàng toàn thân của người bệnh [8]. Gần đây, phân loại Helsinki 2.0 do nhóm tác giả Juha Mali và cộng sự cập nhật đã nổi lên như một công cụ mới. Helsinki 2.0 ngoài sự thay đổi về hình ảnh học còn quan tâm nhiều hơn các đặc điểm lâm sàng. Trên các nghiên cứu quốc tế, Helsinki 2.0 đã được chứng minh có khả năng tiên lượng vượt trội và độ chính xác cao đối với tỷ lệ tử vong, nguy cơ phải nhập ICU và nhu cầu phẫu thuật cấp cứu [9].
Tuy nhiên, có thể thấy hầu hết các nghiên cứu về viêm túi thừa đại tràng tại Việt Nam hiện nay mới chỉ dừng lại ở mức độ mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng hoặc áp dụng các phân loại cũ như Hinchey hay WSES [7]. Trong khi đó, phân loại Helsinki 2.0 có nhiều ưu điểm nhưng còn mới mẻ. Đặc biệt, trong bối cảnh bệnh nhân của chúng ta chủ yếu là viêm túi thừa đại tràng phải và bệnh nhân trẻ tuổi, việc ứng dụng một phân loại mới của phương Tây vào đặc thù chủng tộc châu Á/Việt Nam cần phải được kiểm chứng bằng số liệu thực tế. Do đó, nghiên cứu kiểm chứng tính khả thi và độ tin cậy của phân loại Helsinki 2.0 dựa trên số liệu thực tiễn tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế được thực hiện nhằm góp phần làm sáng tỏ vấn đề này.
Chúng tôi hi vọng việc kết hợp dữ liệu hình ảnh và lâm sàng trong phân loại Hensinki 2.0 được kỳ vọng sẽ có giá trị trong việc quyết định điều trị trên người bệnh

