Tóm tắt
Ung thư phổi là loại ung thư có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất trên toàn thế
giới. Tại Việt Nam, theo Globocan năm 2022, tỷ lệ mắc ung thư phổi đứng hàng thứ nhất về số ca mắc mới và tử vong ở nam. Các yếu tố nguy cơ của ung thư phổi bao gồm hút thuốc lá, môi trường,... [Về mặt mô bệnh học, ung thư phổi có thể chia làm 2 nhóm chính là ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) và ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC), trong đó ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm phần lớn tỷ lệ đến 85%, chiếm phần lớn trong nhóm này là UTBM tuyến.
Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị khác nhau trong bệnh lý ung thư phổi,
trong đó điều trị đích là một phương pháp mới mang lại nhiều hiệu quả đã được chứng minh. Khoảng 15-50% bệnh nhân ung thư phổi mang gen đột biến EGFR. Chính vì thế các thuốc kháng tyrosin kinase đã trở thành thuốc đầu tay trong điều trị ung thư phổi ở nhóm bệnh nhân này
Đánh giá kết quả điều trị là một việc làm cần thiết để chứng minh hiệu quả của
thuốc, phác đồ đang sử dụng ở bệnh nhân. Có nhiều phương pháp đánh giá đáp ứng điều trị dựa trên chẩn đoán hình ảnh, các chất chỉ điểm ung thư hay dựa vào giải phẫu bệnh hoặc lâm sàng, trong đó phương pháp dựa vào chẩn đoán hình ảnh sự thay đổi kích thước của khối u là phương pháp được áp dụng rộng rãi. Cắt lớp vi tính là phương pháp có nhiều ưu điểm đối với tổn thương ở phổi và là một phương pháp tốt để đánh giá đáp ứng điều trị trong ung thư phổi. Đánh giá đáp ứng dựa vào kích thước trên hình ảnh 2D của khối u đặc RECIST (Response Evaluation Criteria In Solid Tumors) hiện vẫn là phương pháp phổ biến.
Chính vì thế, tôi muốn thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh cắt
lớp vi tính ung thư phổi típ tuyến có đột biến gen EGFR giai đoạn IIIB-IVB”
với mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả đặc điểm hình ảnh CLVT ngực ung thư phổi típ tuyến có đột biến gen
EGFR giai đoạn IIIB-IVB.
2. Khảo sát sự biến đổi đặc điểm hình ảnh CLVT theo tiêu chuẩn RECIST 1.1
trước và sau điều trị TKIs

