Tóm tắt
Bệnh sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn phổ biến nhất ở trẻ em. Sâu răng có thể gây ra tình trạng đau và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sinh hoạt hằng ngày. Không những gây ra tổn thất về thời gian và tiền bạc mà còn dẫn đến những biến chứng nguy hiểm nếu không điều trị kịp thời [1]. Nhiều nghiên cứu ở các nước trên thế giới về tình trạng sâu răng cối lớn thứ nhất đều cho thấy mức độ nghiêm trọng của bệnh. Báo cáo của Farah Chouchene và CS (2022) tại Tunisia về mức độ sâu răng cối lớn thứ nhất ở trẻ 6-13 tuổi là 35,8% có ít nhất 1 răng sâu [2]. Ở Việt Nam, tác giả Lê Trung Chánh và CS(2024) khảo sát trên trẻ em tiểu học tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ học sinh có ít nhất một răng vĩnh viễn sâu là 25,2% [3]. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là sự khác biệt trong cấu trúc giải phẫu và vi thể của hệ răng, trong đó độ cứng vi mô của men răng vĩnh viễn tăng lên theo thời gian sau khi mọc răng [4]. Đặc biệt, Răng vĩnh viễn có nguy cơ sâu răng cao hơn đáng kể trong vòng một năm sau khi mọc [5]. Bên cạnh đó, kỹ năng vệ sinh răng miệng của trẻ chưa hoàn thiện, kết hợp với chế độ ăn giàu carbohydrate đã đẩy nhanh quá trình hủy khoáng. Ngoài ra sự mất chất ở răng trẻ khó nhận diện bằng mắt thường cho đến khi lỗ sâu đã hình thành rõ rệt. Hơn nữa, việc khai thác triệu chứng và thăm khám trực tiếp trên trẻ còn nhiều thiếu sự chính xác và khó khăn khi trẻ không hợp tác. Trước những khó khăn trong phát hiện sâu răng ở trẻ em, việc lựa chọn các phương tiện hỗ trợ chẩn đoán cực kỳ cần thiết.
Hiện nay, X-quang vẫn là phương pháp hỗ trợ chẩn đoán thường quy cho phép bác sĩ đánh giá mức độ xâm lấn của sâu răng. Tuy nhiên, X-quang có những hạn chế nhất định: độ nhạy thấp đối với các tổn thương mới chớm và khả năng gây lo ngại về tia xạ cho trẻ nhỏ nếu phải chụp định kỳ để theo dõi quá trình tái khoáng. Những nhược điểm này đặt ra nhu cầu về một công cụ chẩn đoán không xâm lấn, an toàn và có độ nhạy cao hơn.
Trong bối cảnh đó, sự ra đời của Công nghệ huỳnh quang định lượng (Quantitative Light-induced Fluorescence - QLF) được xem là một hướng tiếp cận tiềm năng trong chẩn đoán kịp thời sâu răng và các bệnh lý khác. Năm 2021, tác giả Song Hee Oh và cộng sự đã sử dụng kỹ thuật QLF làm một công cụ hỗ trợ cho các phương pháp thông thường để phát hiện sâu răng mặt nhai và vết nứt ngoại vi [6]. Tại Việt Nam chưa ghi nhận bất kỳ nghiên cứu đánh giá hiệu quả của phương pháp này, do đó việc thực hiện nghiên cứu nhằm làm rõ giá trị ứng dụng trong thực hành lâm sàng là hết sức cần thiết.
Công nghệ huỳnh quang, sử dụng ánh sáng xanh để kích thích các chất chuyển hóa của vi khuẩn là porphyrin hiển thị ánh sáng màu đỏ so với ánh sáng màu xanh trên nền mô răng khỏe mạnh. Khác với thám trâm có thể làm tổn thương thêm vùng răng đang mất khoáng, QLF hoàn toàn không xâm lấn, cung cấp hình ảnh trực quan giúp trẻ và phụ huynh có thể quan sát bệnh lý, sau khi xử lý hình ảnh đưa ra các chỉ số định lượng cụ thể về tình trạng bệnh. Tuy nhiên, khi so sánh QLF với các phương pháp truyền thống như thăm khám lâm sàng và X-quang răng vẫn chưa được đánh giá đầy đủ và cần được làm rõ thêm thông qua nghiên cứu.
Từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ huỳnh quang định lượng trong chẩn đoán sâu răng ở trẻ em" nhằm giải quyết hai mục tiêu:
- Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng sâu răng ở trẻ em.
- So sánh hiệu quả giữa ứng dụng công nghệ huỳnh quang định lượng, thăm khám lâm sàng, X-quang trong chẩn đoán sâu răng ở trẻ em.

