NCKH.DHH Nghiên cứu hiệu quả của kỹ thuật đốt bằng plasma argon (Argon Plasma Coagulation) trong điều trị xuất huyết từ đường tiêu hoá
PDF Download: 1 View: 0

Tóm tắt

Xuất huyết tiêu hóa (XHTH) là một cấp cứu nội khoa phổ biến, có thể đe dọa tính mạng nếu không được xử trí kịp thời và đúng cách. Hiện nay cầm máu qua nội soi vẫn là phương pháp hiệu quả và ít xâm lấn. Các phương pháp điều trị truyền thống như tiêm epinephrine, cầm máu cơ học bằng hemoclip hoặc đốt điện tiếp xúc cho thấy có hiệu quả tốt tuy nhiên vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở những tổn thương lan tỏa như viêm trực tràng sau xạ trị, dị dạng mạch máu lan toả ở dạ dày, hoặc chảy máu từ khối u, hoặc trên nền loét gây co kéo biến dạng hẹp, bên cạnh đó thời gian thực hiện tương đối kéo dài.

Phương pháp cầm máu bằng plasma argon (APC: Argon Plasma Coagulation) hứa hẹn mở ra một bước ngoặt mới, hiện đại và hiệu quả, đặc biệt đối với các trường hợp xuất huyết khó kiểm soát như viêm trực tràng sau xạ trị, giãn mạch máu lan tỏa hang vị (GAVE), dị dạng mạch máu (angiodysplasia), chảy máu từ khối u tiêu hóa, sau cắt polyp lớn hoặc tổn thương ung thư sớm. Với nguyên lý nhiệt không tiếp xúc (non-contact thermal therapy) APC là kỹ thuật nội soi hiện đại, sử dụng dòng khí argon ion hóa để truyền năng lượng điện cao tần, tạo ra hiệu ứng đông máu không tiếp xúc lên mô đích, độ xuyên thấu vào niêm mạc tiêu hóa chỉ dưới 5mm. Do đó, phương pháp này giúp giảm thiểu tổn thương mô lành xung quanh, hạn chế nguy cơ thủng hoặc chảy máu thứ phát so với các kỹ thuật đốt tiếp xúc. Các phân tích gộp đã chỉ ra rằng mặc dù APC không hoàn toàn vượt trội so với các phương pháp cầm máu khác về tỷ lệ cầm máu ban đầu hay tỷ lệ tái phát, nhưng có ưu thế hơn về thao tác, thời gian thực hiện kỹ thuật, độ an toàn và giảm biến chứng. Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy APC đạt tỷ lệ cầm máu tức thì từ 75-100% trong xuất huyết tiêu hóa không do vỡ giãn, bao gồm cả các trường hợp chảy máu do tổn thương mạch máu, tổn thương sau xạ trị, u ác tính đường tiêu hóa và các nguyên nhân khó kiểm soát khác.

Tại Việt Nam, số lượng ca bệnh XHTH phức tạp ngày càng tăng do bệnh lý nền và các biến chứng sau xạ trị, hóa trị, phẫu thuật ngày càng phổ biến. Một nghiên cứu đa trung tâm tại Việt Nam cho thấy, gần 22% bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa dưới có chảy máu kéo dài và 5,5% tái phát xuất huyết ngay trong thời gian nằm viện, với tỷ lệ tử vong nội viện là 2,1%. Trong khi đó, ở VN chưa có một công bố chính thức về hiệu quả và độ an toàn của kỹ thuật APC trong điều trị xuất huyết tiêu hoá. Do đó, nghiên cứu và triển khai rộng rãi kỹ thuật này là rất cần thiết để cập nhật và hoàn thiện phác đồ điều trị XHTH phù hợp với đặc điểm của bệnh nhân trong nước. Đề tài nghiên cứu này không chỉ có tính mới về mặt khoa học, tính thực tiễn cao trong việc góp phần nâng cao chất lượng cấp cứu và điều trị cho bệnh nhân mà còn có khả năng chuyển giao kỹ thuật, áp dụng rộng rãi cao, góp phần nâng cao vị thế chuyên môn của các đơn vị y tế tại Huế, đồng thời mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng bệnh nhân trong khu vực.

PDF Download: 1 View: 0