SDH.NT Nghiên cứu giá trị tiên lượng của các thông số theo phân loại SCAI ở bệnh nhân suy tim mất bù cấp
PDF Download: 5 View: 3

Tóm tắt

Suy tim mất bù cấp là một trong những nguyên nhân nhập viện hàng đầu trên thế giới. Bệnh có diễn tiến lâm sàng rất đa dạng, từ sung huyết đơn thuần đến giảm tưới máu cơ quan và tiến triển đến sốc tim. Trong số các bệnh cảnh này, sốc tim là biểu hiện nặng nề nhất, liên quan đến rối loạn chức năng đa cơ quan, với tỷ lệ tử vong cao mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong điều trị hồi sức tim mạch. Trong những thập kỷ gần đây, mặc dù các chiến lược điều trị và hỗ trợ tuần hoàn đã có nhiều cải thiện, tỷ lệ tử vong trong vòng 30 ngày ở bệnh nhân sốc tim vẫn còn ở mức cao, dao động từ 30% đến 50%. Đáng chú ý, trong khi tỷ lệ sốc tim do nhồi máu cơ tim cấp có xu hướng giảm dần nhờ những tiến bộ trong tái tưới máu mạch vành, thì tỷ lệ sốc tim liên quan đến đợt cấp của suy tim mạn lại có xu hướng gia tăng, chiếm trên 30% trong các báo cáo gần đây. Điều này cho thấy nhu cầu cấp thiết trong việc nhận diện sớm nguy cơ tiến triển nặng ở bệnh nhân suy tim mất bù cấp nhằm tối ưu hóa chiến lược điều trị và cải thiện tiên lượng.
Trong hai thập kỷ qua, mặc dù đã có nhiều thang điểm để tiên lượng bệnh nhân suy tim cấp, tuy nhiên trong thực hành lâm sàng, việc áp dụng các thang điểm này vẫn còn nhiều hạn chế. Nhằm chuẩn hóa cách tiếp cận và phân tầng mức độ nặng của
sốc tim, năm 2019, Hội Chụp mạch và Can thiệp Tim mạch Hoa Kỳ (Society for Cardiovascular Angiography and Interventions – SCAI) đã đề xuất hệ thống phân loại giai đoạn sốc tim dựa trên các đặc điểm lâm sàng, sinh hóa và huyết động học,
sau đó tiếp tục được cập nhật vào năm 2022. Phân loại SCAI chia diễn tiến của sốc tim thành 5 giai đoạn từ A đến E, bao gồm: giai đoạn A (nguy cơ), giai đoạn B (bắt đầu sốc), giai đoạn C (sốc kinh điển), giai đoạn D (sốc tiến triển nặng) và giai đoạn
E (nguy kịch). Nhiều nghiên cứu đã cho thấy phân loại SCAI có giá trị trong phân tầng nguy cơ và tiên lượng ở bệnh nhân sốc tim. Các dữ liệu ban đầu cho thấy mỗi mức độ tăng của giai đoạn SCAI đều liên quan đến sự gia tăng rõ rệt của tỷ lệ tử vong, đặc biệt khi được đánh giá tại thời điểm nhập viện và trong 24 giờ đầu. Mặc dù tỷ lệ sốc tim liên quan đến suy tim mất bù cấp có xu hướng gia tăng, các nghiên cứu về phân loại SCAI hiện nay chủ yếu tập trung vào nhóm bệnh nhân sốc tim do nhồi máu cơ tim cấp. Gần đây, vai trò của phân loại SCAI đã được mở rộng sang nhóm bệnh nhân suy tim cấp chưa có biểu hiện sốc lâm sàng rõ rệt. Nghiên
cứu của Burgos L và cộng sự (2020) cho thấy ở bệnh nhân suy tim mất bù cấp, những trường hợp được phân loại ở giai đoạn SCAI B – giai đoạn tiền sốc – đã có nguy cơ tử vong cao hơn đáng kể so với nhóm SCAI A. Điều này cho thấy phân loại SCAI
có thể giúp phát hiện sớm những bệnh nhân có nguy cơ diễn tiến nặng trước khi xuất hiện các biểu hiện sốc rõ ràng trên lâm sàng.
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu bước đầu cũng ghi nhận giá trị tiên lượng của phân loại SCAI ở bệnh nhân suy tim cấp. Nghiên cứu của Lê Thị Kiều Duyên (2024) và Nguyễn Thị Thu Hương (2025) cho thấy tỷ lệ tử vong tăng dần theo từng giai đoạn của phân loại SCAI, trong đó các bệnh nhân ở giai đoạn nặng có tiên lượng đặc biệt dè dặt. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước về ứng dụng phân loại SCAI trên nhóm bệnh nhân suy tim mất bù cấp vẫn còn hạn chế, đặc biệt là các nghiên cứu đánh giá mối liên quan giữa phân loại này với các kết cục lâm sàng quan trọng như tử vong nội viện, nhu cầu các biện pháp hồi sức tích cực, thời gian nằm viện và các biến cố tim mạch bất lợi trong giai đoạn theo dõi sau xuất viện. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu giá trị tiên lượng của các thông số theo phân loại SCAI ở bệnh nhân suy tim mất bù cấp”
với hai mục tiêu:
1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim mất bù cấp theo các thông số trong phân loại SCAI.
2. Đánh giá mối liên quan giữa phân loại SCAI với tử vong nội viện, thời gian nằm viện, các can thiệp hồi sức (nhu cầu sử dụng thuốc vận mạch, thở máy, lọc máu hoặc hỗ trợ tuần hoàn cơ học) và biến cố tim mạch chính trong 6 tháng.

Nghiên cứu được tiến hành tại: Khoa Nội tim mạch, Bệnh viện Trung ương Huế . Thời gian dự kiến: Từ tháng 1/5/2026 đến hết tháng 31/8/2028. 

PDF Download: 5 View: 3