Tóm tắt
I.Đặt vấn đề
Giai đoạn hậu sản (Postpartum period) được xem là một giai đoạn chuyển tiếp sinh học - tâm lý - xã hội đầy biến động trong cuộc đời người phụ nữ. Bên cạnh niềm hạnh phúc được làm mẹ, sản phụ phải đối mặt với sự sụt giảm đột ngột của nội tiết tố (estrogen và progesterone), sự đau đớn về thể xác sau cuộc vượt cạn, và áp lực thích nghi với vai trò mới. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các rối loạn tâm thần chu sinh là một vấn đề sức khỏe toàn cầu nghiêm trọng, với tỷ lệ phổ biến khoảng 10-20% ở các nước đang phát triển [1]. Nếu không được kiểm soát, gánh nặng tâm lý này không chỉ ảnh hưởng đến sự hồi phục của mẹ mà còn tác động tiêu cực đến sự phát triển nhận thức, cảm xúc của trẻ sơ sinh và sự bền vững của mối quan hệ gia đình[1].
Tiền đề của trầm cảm và sự cần thiết của can thiệp sớm Trong khi Trầm cảm sau sinh (Postpartum Depression - PPD) thường được nghiên cứu ở giai đoạn muộn (sau 4-6 tuần), thì căng thẳng sau sinh (Postpartum Stress) lại hiện diện ngay từ những ngày đầu tiên. Căng thẳng sau sinh được định nghĩa là phản ứng căng thẳng đa chiều trước các tác nhân như: sự mệt mỏi thể chất, thay đổi ngoại hình, khó khăn trong việc nuôi con bằng sữa mẹ và thiếu hụt sự hỗ trợ xã hội. Các nghiên cứu y văn, điển hình là nghiên cứu của Razurel và cộng sự (2013), đã khẳng định stress tâm lý trong giai đoạn sớm là yếu tố dự báo mạnh mẽ nhất dẫn đến trầm cảm sau sinh [2]. Việc tập trung khảo sát vào tuần đầu sau sinh mang ý nghĩa chiến lược. Đây là giai đoạn "cửa sổ vàng" để sàng lọc; bởi lẽ, những khó khăn ban đầu trong việc thiết lập nhịp sinh học cho trẻ và phục hồi vết thương tầng sinh môn/vết mổ thường đạt đỉnh điểm trong tuần này. Nếu phát hiện sớm mức độ stress ngay tại bệnh viện, nhân viên y tế có thể can thiệp kịp thời trước khi sản phụ xuất viện, ngăn chặn tiến trình diễn biến thành trầm cảm mãn tính.
Bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng là trung tâm chuyên sâu tuyến cuối của khu vực Miền Trung – Tây Nguyên, tiếp nhận hàng ngàn ca sinh mỗi năm với mô hình bệnh tật và đặc điểm dân cư đa dạng. Mặc dù quy trình chăm sóc về sản khoa và sơ sinh tại đây rất phát triển, nhưng các dữ liệu khoa học về sức khỏe tâm thần, cụ thể là mức độ căng thẳng của sản phụ trong tuần đầu nằm viện, vẫn còn hạn chế. Chưa có nhiều đề tài đánh giá sâu sự tác động của các yếu tố nhân khẩu học và so sánh đặc điểm stress giữa nhóm con so và con rạ tại cơ sở này.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn lâm sàng và khoảng trống trong dữ liệu nghiên cứu tại địa phương, chúng tôi tiến hành đề tài " Đánh giá mức độ căng thẳng và một số yếu tố liên quan ở sản phụ sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng ." với 2 mục tiêu chính:
1. Đánh giá mức độ căng thẳng sau sinh của sản phụ tại bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến mức độ căng thẳng sau sinh của sản phụ tại bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng.
II. Đối tượng phương pháp nghiên cứu2.1. Đối tượng nghiên cứu
Sản phụ thời kỳ hậu sản sớm ( 3 ngày đầu) có con sống tại Bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng.
2.1.1. Tiêu chí chọn mẫu
- Là sản phụ vừa sinh con: Đang nằm tại các khoa Hậu sản (Hậu sản thường, Hậu sản mổ, Hậu sản - Dưỡng nhi) của Bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng.
- Thời gian: Đang trong thời gian hậu sản sớm 3 ngày đầu sau sinh.
- Tình trạng con: Sinh con sống (để có thể đánh giá được các mục "Chăm sóc con" trong thang đo Hung).
- Khả năng trả lời: Tỉnh táo, giao tiếp được, biết đọc viết tiếng Việt (để tự điền vào phiếu khảo sát thang đo Hung Postpartum Stress Scale).
- Sản phụ mắc bệnh lý tâm thần từ trước: (Vì không phân biệt được stress do bệnh cũ hay do sau sinh).
- Sản phụ có con tử vong hoặc dị tật bẩm sinh nặng: (Vì trường hợp này gây ra nỗi đau khổ/sang chấn tâm lý (Grief/Trauma) khác hoàn toàn với dạng "Stress chăm con" mà thang đo Hung đo lường).
- Sản phụ đang cấp cứu: Đang nằm Hồi sức tích cực, hôn mê, không thể giao tiếp.
2.2. Thời gian địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5 năm 2026 đến tháng 7 năm 2026
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
2.3.2. Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện
2.3.3. cỡ mẫu

Trong đó:
- n: Cỡ mẫu cần tính
- Z1-a/2: Giá trị từ bảng phân phối chuẩn ( mức tin cậy 95% tương ứng Z= 1.96)
- P: Tỉ lệ ước tính của biến nghiên cứu ( Theo nghiên cứu của Lê Thị Phương Anh và cộng sự về phân tích các nhân tố kinh tế xã hội tác động stress sau sinh của phụ nữ tại TP. Hồ Chí Minh năm 2022 là 38%) [25].
- E: là sai số mong muốn ( 0.05)
- Thay số vào ta được: n= 362
- Dự phòng nhiễu 5%: ntt= = 381
2.3.4. Công cụ thu thập số liệu
Thu thập dữ liệu, sử dụng bộ câu hỏi: Bộ câu hỏi gồm có hai phần:
Phần A: Đặc điểm chung của đối tượng tham gia bao gồm:
- Tuổi
- Số lần mang thai
- Hình thức sinh con
- Trình độ học vấn (đã hoàn thành)
- Tình trạng hôn nhân
- Tình trạng việc làm
- Điều kiện kinh tế
- Người hiện tại đang sống cùng
- Đang sử dụng thuốc điều trị
- Sử dụng thuốc lá
- Nhận được sự hỗ trợ từ phía chồng
Phần B: Đánh giá tình trạng stress trong tuần đầu sau sinh bằng thang đo Hung Postpartum Stress định lượng stress sau sinh dành cho sản phụ. Hệ thống tính điểm được đánh giá theo thang đo likert 5 điểm. Tổng điểm Hung Postpartum Stress có thể nhận được bằng cách tính tổng 61 và nằm trong khoảng từ 61 đến 305. Điểm càng cao tương ứng với nguy cơ stress của sản phụ càng cao.Mỗi câu hỏi được chấm trên thang Likert 5 điểm (từ 1: Không áp lực đến 5: Rất áp lực).
- Điểm tổng thấp ( Tổng điểm từ 61-142): Mức độ stress bình thường, có khả năng thích nghi tốt.
- Điểm trung bình( Tổng điểm từ 143-224): Bắt đầu có dấu hiệu quá tải, cần các biện pháp hỗ trợ tâm lý hoặc điều chỉnh lịch trực.
- Điểm cao, ngưỡng cảnh báo( Tổng điểm từ 225-305): Nguy cơ cao
Chuẩn hóa ngôn ngữ: Bộ câu hỏi Hung Postpartum Stress được dịch sang tiếng Việt theo quy trình dịch và dịch ngược. Bộ câu hỏi sau đó được sử dụng thử với 30 sản phụ thoả mãn tiêu chí lựa chọn và loại trừ.
2.3.5. Độ tin cậy và tính ứng dụng
HPSS là một công cụ đo lường tâm trắc học có độ tin cậy và giá trị nội tại rất cao (hệ số Cronbach's Alpha thường đạt mức trên 0.90). Mỗi câu hỏi được chấm trên thang Likert 5 điểm (từ 1: Không áp lực đến 5: Rất áp lực). Điểm tổng càng cao phản ánh mức độ căng thẳng tâm lý của sản phụ càng nghiêm trọng. Hiện nay, HPSS đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ và ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu lâm sàng toàn cầu.
2.3.6. Phương pháp thu thập số liệu:
- Số liệu được thu thập tại Bệnh viện Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng cơ sở 1 (402 Lê Văn Hiến, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng). Sau khi được sự chấp nhận của trường Đại học Y-Dược Huế và Bệnh viện Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng.
- Trước khi tiến hành nghiên cứu, sẽ tiến hành nghiên cứu thử nghiệm bằng cách phỏng vấn trực tiếp 30 đối tượng thoả mãn tiêu chí lựa chọn và loại trừ để kiểm tra các câu hỏi điều chỉnh các câu hỏi.
- Thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn trực tiếp đối tượng tham gia theo các bước như sau: Tất cả các trường hợp thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ được chọn vào mẫu nghiên cứu.
- Tiếp xúc với sản phụ, chọn những sản phụ đủ theo tiêu chí chọn mẫu.
- Giới thiệu mục đích nghiên cứu cho những sản phụ. Nếu họ đồng ý tham gia nghiên cứu, cho họ ký giấy đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Đối tượng tham gia có thể đặt câu hỏi với người nghiên cứu bất cứ lúc nào nếu có thắc mắc.
- Địa điểm: Cơ sở 1 BV Phụ - Sản Nhi Đà Nẵng (402 Lê Văn Hiến, Khuê Mỹ, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng).
- Thời gian 30 phút
2.3.7. Các thuật toán thống kê sử dụng trong luận văn
- Dữ liệu được nhập và phân tích dựa vào phần mềm phân tích dữ liệu
- SPSS 22.0 và được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ.
- Các biến số được mô tả bằng giá trị trung vị, độ lệch chuẩn, tần số và tỷ lệ phần trăm.
- Tương quan Pearson’s Correlation được sử dụng để xác định mối liên quan giữa tuổi và Mức độ căng thẳng
- Phép kiểm định Independent T-Test được sử dụng để xác định sự khác biệt giữa điểm trung bình căng thẳng với: Tình trạng công việc, sử dụng thuốc điều trị bệnh, sử dụng chất có cồn, sử dụng rượu bia thuốc lá, sự hỗ trợ từ chồng. Giá trị p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê.
- Phép kiểm định One – Way ANOVA được sử dụng để xác định sự khác biệt giữa điểm trung bình căng thẳng sau sinh với số lần mang thai, trình độ học vấn, người hiện đang sống cùng. Giá trị p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê.

