SDH.NT Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học, mức độ nặng ở bệnh nhân nhồi máu não có hẹp mạch máu não nội sọ do xơ vữa
PDF Download: 2 View: 1

Tóm tắt

ĐẶT VẤN ĐỀ

    Đột quỵ là căn bệnh phổ biến, tác động lớn đến sức khỏe cộng đồng, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên toàn thế giới, tạo ra gánh nặng rất lớn cho gia đình và xã hội. Khảo sát ở 204 quốc gia trên thế với năm 2021 ghi nhận tổng số ca tử vong do đột quỵ là 7,25 triệu. Trên toàn cầu tổng số ca tử vong do đột quỵ thiếu máu não là 3,59 triệu [1]. Đột quỵ não đã và đang trở thành vấn đề quan trọng của y học ở tất cả các quốc gia trên thế giới do bệnh có tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong cao và có mức độ di chứng nặng nề nhất trong các bệnh lý nội khoa [2]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, đột quỵ não chung là nguyên nhân thứ 3 gây tử vong và đứng hàng đầu gây tàn tật ở người trưởng thành [2]. Đây là bệnh lý có tỷ lệ tái phát và tử vong đều cao. Đột quỵ não gồm nhồi máu não và xuất huyết não, nhồi máu não chiếm tỉ lệ 85% [3]. Ba nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ nhồi máu não theo phân loại TOAST là bệnh lý xơ vữa mạch máu lớn, tắc mạch từ tim và bệnh lý tắc mạch máu nhỏ. Trong đó bệnh lý xơ vữa mạch máu lớn làm hẹp tắc tại chỗ hoặc gây ra huyết khối tắc nghẽn mạch máu là nguyên nhân quan trọng chiếm tỷ lệ cao nhất gây nhồi máu não [4]. Hẹp mạch máu não có thể ở nhiều vị trí như động mạch cảnh trong đoạn ngoại sọ, động mạch cảnh trong đoạn nội sọ, hệ động mạch sống nền.

   Trong nghiên cứu tại Việt Nam ghi nhận hẹp mạch cảnh có triệu chứng nhồi máu não chiếm tỷ lệ 76,92%. Vị trí hạy gặp nhất là chỗ chia đôi động mạch cảnh 43,07%, vị trí hay gặp thứ hai là động mạch cảnh trong chiếm 36,92%, trong đó 62,5% đoạn trong sọ, 37,5% đoạn ngoài sọ [5]. Hẹp mạch máu não không chỉ là yếu tố nguy cơ của nhồi máu não mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ thiếu máu não, kích thước vùng tổn thương [6]. Về mặt lâm sàng, mức độ nặng của nhồi máu não cấp thường được đánh giá bằng thang điểm NIHSS, tình trạng rối loạn ý thức, mức độ liệt, rối loạn ngôn ngữ và các rối loạn thần kinh khu trú khác. Tuy nhiên, biểu hiện lâm sàng ban đầu không phải lúc nào cũng phản ánh đầy đủ mức độ tổn thương mạch máu nền. Có những trường hợp hẹp mạch máu mức độ nặng nhưng triệu chứng lâm sàng tương đối nhẹ nhờ hệ thống tuần hoàn bàng hệ phát triển tốt [7]. Ngược lại, tổn thương hẹp vừa phải nhưng lâm sàng diễn tiến nặng nề do vùng cấp máu chức năng quan trọng bị ảnh hưởng hoặc bàng hệ kém. 

Sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh thần kinh đã cho phép đánh giá toàn diện cả nhu mô não và hệ thống mạch máu não. Các kỹ thuật như CT scan, CT angiography (CTA), MRI, MR angiography (MRA), chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) giúp xác định vị trí, mức độ và chiều dài đoạn hẹp, mức độ tổn thương nhu mô não thông qua thể tích ổ nhồi máu. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về nhồi máu não cấp chủ yếu tập trung vào yếu tố nguy cơ, điều trị tái thông và tiên lượng ngắn hạn. Các nghiên cứu sâu về đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học, và mối liên quan giữa biểu hiện lâm sàng và hình ảnh học ở bệnh nhân nhồi máu não có hẹp mạch máu não do xơ vữa hiện chưa có. Việc làm rõ mối liên quan này có ý nghĩa quan trọng trong thực hành lâm sàng: giúp nhận diện sớm nhóm bệnh nhân nguy cơ cao, hỗ trợ quyết định chiến lược điều trị (nội khoa tối ưu, can thiệp nội mạch), đồng thời góp phần xây dựng mô hình dự báo mức độ nặng và tiên lượng sớm.

Vì vậy, em thực hiện nghiên cứu “ Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học,mức độ nặng ở bệnh nhân nhồi máu não có hẹp mạch máu não nội sọ do xơ vữa” với hai mục tiêu:

  1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh tổn thương ở bệnh nhân nhồi máu máu não có hẹp mạch máu nội sọ do xơ vữa
  2. Mối liên quan giữa biểu hiện lâm sàng và hình ảnh học ở bệnh nhân nhồi máu não có hẹp mạch máu nội sọ do xơ vữa

 

PDF Download: 2 View: 1