Thực trạng nguồn nhân lực và mức độ tự tin thực hiện năng lực theo yêu cầu việc làm của cử nhân Y tế công cộng ở khu vực Miền Trung - Tây Nguyên
PDF Download: 3 View: 2

Tóm tắt

Nhân lực y tế là yếu tố cốt lõi quyết định năng lực vận hành của hệ thống y tế, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ và hiệu quả chăm sóc sức khỏe cộng đồng [1]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nguồn nhân lực y tế là điều kiện tiên quyết để đạt được bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, đồng thời đóng vai trò trung tâm trong việc ứng phó với các thách thức y tế toàn cầu [2]. Tuy nhiên, thế giới vẫn đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực nghiêm trọng. Ước tính đến năm 2030, toàn cầu sẽ thiếu khoảng 10 triệu nhân lực y tế, chủ yếu tập trung tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, không chỉ thiếu về số lượng, nhiều hệ thống y tế còn thiếu hụt về năng lực cốt lõi [3].

Trong bối cảnh gia tăng gánh nặng bệnh tật và già hóa dân số, hệ thống y tế đang có xu hướng chuyển từ mô hình điều trị sang dự phòng và nâng cao sức khỏe, đòi hỏi vai trò ngày càng quan trọng của nhân lực y tế công cộng với các năng lực liên ngành và dựa trên bằng chứng [4]. Tại Việt Nam, Chiến lược quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và Nghị quyết 72-NQ/TW (2025) nhấn mạnh ưu tiên phát triển  nhân lực y tế cơ sở và y tế dự phòng [5], [6]. Tuy nhiên, tình trạng mất cân đối trong phân bố vẫn tồn tại, đặc biệt thiếu hụt nhân lực y tế công cộng tại tuyến cơ sở và vùng khó khăn [7]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Chí Minh Trung và cộng sự cho thấy cho thấy khoảng 41,5% đơn vị thiếu hụt nhân lực y tế công cộng, đồng thời tồn tại nhiều rào cản như hạn chế trong cơ chế thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao, điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ chưa phù hợp, cũng như hiệu quả quy hoạch và sử dụng nhân lực còn thấp [8].

Bên cạnh vấn đề số lượng và phân bố, chất lượng và năng lực thực hành của nhân lực y tế công cộng ngày càng trở thành mối quan tâm trọng tâm. Chuẩn năng lực nghề nghiệp cho cử nhân y tế công cộng đã được ban hành theo Quyết định 2642/QĐ-BYT, bao gồm 8 nhóm năng lực cốt lõi làm cơ sở cho đào tạo và sử dụng nhân lực [9]. Tuy nhiên, việc đánh giá trực tiếp các năng lực này trong thực tế còn gặp nhiều khó khăn do tính phức tạp và phụ thuộc bối cảnh. Trong bối cảnh đó, mức độ tự tin thực hiện năng lực được xem là một chỉ số gián tiếp quan trọng, phản ánh khả năng vận dụng kiến thức và kỹ năng vào công việc. Các nghiên cứu của Iskandar K (2022), Krasna H (2021) đã chứng minh mối liên quan thuận giữa mức độ tự tin và hiệu quả thực hành, cũng như khả năng thích ứng với yêu cầu nghề nghiệp [10], [11].

Tại Việt Nam, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về nguồn nhân lực y tế nhưng tập trung chủ yếu vào quy mô và phân bố, trong khi còn thiếu các bằng chứng về khả năng đáp ứng năng lực thực tiễn của cử nhân y tế công cộng, đặc biệt dưới khía cạnh độ mức độ tự tin thực hiện năng lực theo yêu cầu việc làm. Khoảng trống này trở nên rõ rệt khi thông tư 03/2023/TT-BYT đã quy định danh mục vị trí việc làm và cơ cấu chức danh nghề nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp y tế công lập làm cơ sở quan trọng để xác định yêu cầu năng lực theo vị trí việc làm [12]. Đồng thời, Thông tư 43/2025/TT-BYT cho thấy tuyến y tế cơ sở phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ đa lĩnh vực, dẫn đến tình trạng kiêm nhiệm và làm gia tăng khoảng cách giữa yêu cầu công việc và năng lực thực tế [13].

Khu vực Miền Trung – Tây Nguyên là vùng có điều kiện kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh và có sự chênh lệch trong tiếp cận dịch vụ y tế. Điều này đặt ra nhu cầu cao đối với nhân lực y tế công cộng cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực có nhiều khó khăn trong thu hút, phân bổ và sử dụng nhân lực, đặc biệt tại tuyến cơ sở [14]. Trong bối cảnh đó, việc đánh giá đồng thời thực trạng nguồn nhân lực và mức độ tự tin thực hiện năng lực của cử nhân y tế công cộng có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp bằng chứng cho hoạch định chính sách và cải thiện chất lượng đào tạo. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng nguồn nhân lực và mức độ tự tin thực hiện năng lực theo yêu cầu việc làm của cử nhân Y tế công cộng ở khu vực Miền Trung – Tây Nguyên” với hai mục tiêu:

  1. Mô tả thực trạng nguồn nhân lực cử nhân y tế công cộng làm việc ở khu vực Miền Trung – Tây Nguyên.
  2. Phân tích mức độ tự tin thực hiện các năng lực theo yêu cầu việc làm của cử nhân Y tế công cộng ở địa bàn nghiên cứu.
PDF Download: 3 View: 2