Tóm tắt
Theo Tổ chức Y tế thế giới, sốt xuất huyết dengue (SXHD) hiện là bệnh do muỗi truyền có tốc độ gia tăng nhanh nhất trên thế giới và là một trong mười mối đe doạ hàng đầu đối với sức khoẻ cộng đồng toàn cầu [1, 2]. Trong vài thập kỷ qua, gánh nặng sốt xuất huyết đang gia tăng nhanh chóng, từ năm 1990 đến năm 2021 nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật toàn cầu đã ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh tăng gấp đôi từ 26,45 triệu lên 58,96 triệu ca và số ca tử vong liên quan tăng từ 14.315 lên 29.075 [3]. Cho đến hiện tại, các báo cáo giám sát quốc tế tiếp tục cho thấy bệnh vẫn duy trì ở mức cao, với trên 5 triệu ca mắc mới và hơn 3.000 ca tử vong được ghi nhận tại hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ trong năm 2025 [4]. Phần lớn các trường hợp này đến từ châu Mỹ, khu vực ảnh hưởng nhiều thứ hai là Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, tính đến tháng 12 năm 2025, báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới ghi nhận Việt Nam có 184.903 trường hợp mắc bệnh và 43 trường hợp tử vong, tăng 28,4% so với cùng kỳ năm 2024, với 14 trường hợp tử vong bổ sung. Là vùng lưu hành bệnh lâu dài với chu kỳ dịch rõ rệt, xu hướng gia tăng ca bệnh và xuất hiện các ổ dịch mới qua các năm tại nhiều địa phương phản ánh tính nghiêm trọng và phức tạp của bệnh sốt xuất huyết dengue đang diễn ra tại Việt Nam.
Bệnh cảnh lâm sàng của sốt xuất huyết dengue thường rất đa dạng với nhiều thể bệnh, từ nhiễm vi-rút không triệu chứng đến mức độ nặng như hội chứng sốc DEN. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, trong một vụ dịch các trường hợp nhiễm trùng DENV phát triển thành bệnh sốt xuất huyết dengue nặng chiếm khoảng 5%, được đặc trưng bởi thoát huyết tương, xuất huyết niêm mạc nặng, có thể dẫn đến sốc sốt xuất huyết dengue giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn động máu, suy đa tạng và tử vong [6, 7]. Do đó, việc nhận diện sớm các yếu tố tiên lượng mức độ nặng có ý nghĩa quan trọng trong theo dõi, phân tầng nguy cơ và quyết định chiến lược điều trị kịp thời cho người bệnh.
Trong sốt xuất huyết dengue, tiên lượng mức độ nặng của bệnh trong giai đoạn sớm khi các biểu hiện lâm sàng còn chưa rõ luôn là một thách thức đối với người thầy thuốc lâm sàng. Các dấu hiệu cảnh báo thường xuất hiện muộn, trong khi các chỉ số xét nghiệm sinh học chuyên sâu có chi phí cao và rất khó để áp dụng rộng rãi. Những năm gần đây, việc tìm kiếm các dấu ấn sinh học đơn giản hơn, dễ tiếp cận và có giá trị tiên lượng sớm diễn tiến nặng của sốt xuất huyết dengue đang ngày càng được quan tâm. Trong đó, tỉ số bạch cầu trung tính/lympho (Neutrophil-to-Lymphocyte Ratio – NLR) và tỉ số tiểu cầu/lympho (Platelet-to-Lymphocyte Ratio – PLR) nổi bật lên với giá trị phản ánh tình trạng đáp ứng viêm, miễn dịch, rối loạn huyết học và đã được sử dụng làm dấu ấn tiên lượng trong nhiều bệnh lý khác nhau như bệnh tim mạch, khối u rắn, nhiễm trùng huyết, viêm phổi, hội chứng suy hô hấp cấp tính hay COVID-19 [8-10]. Trong sốt xuất huyết dengue, đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sự thay đổi tỉ số bạch cầu trung tính/lympho và tỉ số tiểu cầu/lympho có liên quan với tới mức độ nặng của bệnh và có giá trị tiên lượng ở nhóm bệnh nhân sốt xuất huyết dengue nặng [11-13]. Tuy nhiên cho đến nay, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về giá trị tiên lượng nặng của tỉ số bạch cầu trung tính/lympho cũng như tỉ số tiểu cầu/lympho và mối liên quan giữa hai tỉ số này với diễn biến và tiên lượng bệnh sốt xuất huyết dengue. Xuất phát từ các vấn đề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu giá trị tiên lượng nặng của tỉ số bạch cầu trung tính/ lympho và tiểu cầu/ lympho ở bệnh nhân sốt xuất huyết dengue người lớn tại Bệnh viện Trung ương Huế” nhằm hai mục tiêu:
- Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tỉ số bạch cầu trung tính/ lympho, tiểu cầu/ lympho ở bệnh nhân sốt xuất huyết dengue người lớn.
- Đánh giá giá trị tiên lượng nặng của tỉ số bạch cầu trung tính/ lympho và tiểu cầu/lympho ở đối tượng nghiên cứu.

