Tóm tắt
Sỏi tiết niệu là một trong những bệnh lý thường gặp ở thế giới và Việt Nam với tỉ lệ mắc sỏi dao động 2-3% dân số. Trong đó sỏi thận chiếm tỷ lệ cao nhất với 70-75%. [1] Sỏi gây nên tình trạng tắc đường dẫn niệu, gây nhiễm khuẩn và suy thận, gây nguy hại sức khoẻ và tính mạng bệnh nhân.
Nhờ những tiến bộ của nhiều y học hiện đại, các phương pháp điều trị sỏi thận đã chuyển sang hướng ít sự xâm lấn thay thế dần mổ mở kinh điển . Theo Hướng dẫn điều trị sỏi đường tiết niệu của Hội Niệu Khoa Châu Âu (2025) và Hội Niệu Khoa Hoa Kỳ (2026), tán sỏi thận qua da vẫn là phương pháp lựa chọn đầu tay cho sỏi thận kích thước lớn (> 2 cm) nhờ tỷ lệ sạch sỏi cao chỉ sau một lần can thiệp [2] [3] . Mặc dù hiệu quả cao, PCNL vẫn tồn tại những hạn chế đáng kể. Đây là phương pháp xâm lấn qua da, nên tỷ lệ biến chứng vẫn cao hơn so với các kỹ thuật nội soi ngược dòng. Theo phân tích hệ thống trên gần 12.000 bệnh nhân được trích dẫn trong EAU 2025, các biến chứng thường gặp của PCNL bao gồm: sốt 10,8%, truyền máu 7%, biến chứng ngực (tràn khí màng phổi, tràn dịch màng phổi) 1,5%, nhiễm khuẩn huyết 0,5%, tổn thương tạng kế cận 0,4%, và tử vong 0,05%. [4] Michel et al. (2007) báo cáo tỷ lệ truyền máu dao động 11,2–17,5% và nhiễm khuẩn huyết 0,3–4,7% trong các series trước đây . Thời gian nằm viện trung bình thường kéo dài 3–5 ngày. Đặc biệt ở nhóm bệnh nhân nguy cơ cao (béo phì, rối loạn đông máu, thận độc nhất, bệnh lý tim mạch nặng hoặc người cao tuổi), tỷ lệ biến chứng nghiêm trọng Clavien-Dindo ≥ III có thể tăng lên 10–15% [5] (Michel et al., 2007; Constantinou et al., 2024). Những biến chứng này không chỉ làm tăng chi phí điều trị, kéo dài thời gian hồi phục mà còn có nguy cơ đe dọa tính mạng bệnh nhân. Chính những hạn chế này đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nội soi niệu quản thận ngược dòng bằng ống soi mềm như một lựa chọn thay thế ngày càng quan trọng.
Trong thập kỷ gần đây, nội soi niệu quản thận ngược dòng bằng ống soi mềm đã phát triển vượt bậc nhờ các cải tiến công nghệ: ống soi kỹ thuật số một lần sử dụng, sheath hút linh hoạt, laser Holmium:YAG công suất cao và các phụ kiện chuyên dụng. Theo EAU 2025, một phân tích tổng hợp cho thấy RIRS đạt tỷ lệ sạch sỏi tích lũy 91% (sau trung bình 1,45 lần can thiệp), với biến chứng Clavien ≥ 3 chỉ 4,5%, thời gian nằm viện ngắn, ít đau và ít mất máu hơn so với PCNL, đặc biệt ở bệnh nhân có nguy cơ cao (béo phì, rối loạn đông máu, thận độc nhất, bệnh lý tim mạch nặng). [6] Tại Việt Nam, kỹ thuật nội soi ngược dòng bằng ống soi mềm đã được triển khai rộng rãi tại các bệnh viện lớn từ năm 2015. Các nghiên cứu trong nước đã ghi nhận tỷ lệ sạch sỏi khá khả quan ở nhóm sỏi thận thông thường. Cụ thể, Phạm Ngọc Hùng (2018) báo cáo tỷ lệ sạch sỏi tổng thể đạt 71,8% trên 78 bệnh nhân; Nguyễn Minh An và cộng sự (2023) ghi nhận tỷ lệ sạch sỏi ngay sau mổ là 83,9% và đạt 100% sau 1 tháng trên 31 bệnh nhân; Bùi Đăng Ngọc và cộng sự (2024) trên 71 trường hợp đạt tỷ lệ sạch sỏi 81,7% ngay sau mổ, 83,1% sau 1 tháng và 84,5% sau 3 tháng, với tỷ lệ biến chứng là 12,8% (chủ yếu mức độ nhẹ); gần đây, Phan Ngọc Nhật Khanh và cộng sự (2025) báo cáo tỷ lệ sạch sỏi ngay sau mổ đạt 87% trên 38 trường hợp sỏi đài thận dưới. Hầu hết các nghiên cứu trên chủ yếu bao gồm bệnh nhân có sỏi với kích thước đa dạng hoặc tập trung vào sỏi đài dưới, trong khi số liệu hệ thống, quy mô lớn dành riêng cho sỏi thận kích thước lớn (> 2 cm) vẫn còn ít ỏi. Đặc biệt tại khu vực miền Trung, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá toàn diện, đồng bộ về hiệu quả, an toàn cũng như các yếu tố ảnh hưởng của phương pháp này trong bối cảnh thực tiễn Việt Nam. [7] [8] [9]
Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá kết quả điều trị sỏi thận kích thước lớn bằng nội soi ngược dòng sử dụng ống soi mềm tán sỏi ” với hai mục tiêu sau:
1. Nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân bị sỏi thận kích thước lớn được điều trị bằng nội soi ngược dòng sử dụng ống soi mềm
2. Đánh giá kết quả điều trị của sỏi thận kích thước lớn bằng nội soi niệu quản ngược dòng sử dụng ống soi mềm.

