Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát tác động của đệm kê gối đến các thông số ống sống và so sánh chất lượng hình ảnh cộng hưởng từ cột sống thắt lưng giữa hai tư thế có và không sử dụng đệm kê gối.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có thiết kế so sánh bắt cặp trên 54 bệnh nhân được chụp CHT cột sống thắt lưng tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 04/2025 đến tháng 04/2026. Mỗi bệnh nhân được khảo sát ở hai tư thế không kê và có kê đệm dưới gối trên cùng hệ thống máy và cùng protocol kỹ thuật. Các thông số được đánh giá gồm góc Cobb thắt lưng, diện tích ống sống và diện tích túi màng cứng tại các tầng L1-L2 đến L5-S1, tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu (SNR), tỷ lệ tương phản trên nhiễu (CNR) và mức độ nhiễu ảnh chồng chéo lát cắt. Hai bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đánh giá độc lập mức độ nhiễu ảnh theo thang điểm Likert 5 mức.
Kết quả: Tuổi trung bình là 50,02 ± 14,27 tuổi; nữ chiếm 63,0%. Góc Cobb giảm có ý nghĩa ở tư thế kê chân so với không kê chân (38,71 ± 10,16° so với 40,78 ± 9,63°; p < 0,001). Diện tích ống sống và diện tích túi màng cứng tại các tầng khảo sát không khác biệt có ý nghĩa giữa hai tư thế (p > 0,05). SNR và CNR không khác biệt có ý nghĩa giữa hai tư thế. Tư thế kê chân ghi nhận mức độ nhiễu ảnh chồng chéo lát cắt nhẹ hơn so với tư thế không kê chân, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,002) .
Kết luận: Đệm kê đầu gối làm giảm nhẹ độ ưỡn thắt lưng, giảm tần suất và mức độ nặng của nhiễu ảnh, nhưng không làm thay đổi có ý nghĩa diện tích ống sống, diện tích túi màng cứng hoặc các chỉ số chất lượng ảnh định lượng. Tư thế bệnh nhân cần được ghi nhận và chuẩn hóa khi thực hiện các phép đo hình thái cột sống thắt lưng.
Từ khoá: cộng hưởng từ cột sống thắt lưng; đệm kê đầu gối; góc Cobb; hẹp ống sống; chất lượng hình ảnh.

