Tóm tắt
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thoái hoá cột sống thắt lưng (hẹp ống sống, thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống) rất thường gặp, gây đau lưng, đau rễ thần kinh và hạn chế vận động. Ở nam giới, bệnh còn có thể làm suy giảm chức năng tình dục qua đau khi giao hợp, hạn chế tư thế, tổn thương thần kinh, yếu tố tâm lý và thuốc đang dùng. Phẫu thuật giải ép, có hoặc không cố định – hàn xương, cải thiện đau và triệu chứng thần kinh, nhưng ảnh hưởng của phẫu thuật lên chức năng tình dục còn ít được đánh giá có hệ thống, nhất là ở Việt Nam, và các nghiên cứu trên thế giới cho tỷ lệ cải thiện khác nhau. Vì vậy đề tài được thực hiện với hai mục tiêu: (1) mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và kết quả phẫu thuật; (2) đánh giá sự thay đổi chức năng tình dục sau phẫu thuật.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc, không đối chứng, tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Đối tượng là nam giới 18–65 tuổi có chỉ định phẫu thuật và có hoạt động tình dục trong 6 tháng trước nhập viện. Cỡ mẫu tối thiểu 84, dự kiến tuyển 100 bệnh nhân (dự phòng 15% bỏ cuộc), chọn mẫu liên tiếp. Bệnh nhân được đánh giá trước mổ, ngày 1, lúc ra viện, 3 tháng và 6 tháng bằng VAS, ODI, IIEF-15, SQoL-M, PEDT cùng MRI và X-quang. Các thông tin về phẫu thuật gồm phương pháp, số tầng, thời gian mổ, mất máu và tai biến. Bộ câu hỏi nhạy cảm do bệnh nhân tự điền trong phong bì kín. Dữ liệu được xử lý bằng SPSS 20: so sánh trước – sau, phân tích tương quan và hồi quy tìm yếu tố liên quan.
KẾT QUẢ DỰ KIẾN
Mô tả được đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và kết quả sớm, muộn của phẫu thuật. Đau (VAS) và mức độ khuyết tật (ODI) dự kiến giảm rõ sau mổ. Chức năng tình dục (IIEF-15) và chất lượng cuộc sống tình dục (SQoL-M) dự kiến cải thiện ở phần lớn bệnh nhân tại 3 và 6 tháng, theo hướng các nghiên cứu tham khảo; mức cải thiện có thể khác nhau theo tuổi, mức độ chèn ép, thời gian mắc bệnh, bệnh kèm và phương pháp mổ. Từ đó xác định được các yếu tố liên quan, làm cơ sở tư vấn cho bệnh nhân trước mổ và đưa chức năng tình dục vào đánh giá thường quy.

